Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM

TỈNH KON TUM

Bản án số:115/2024/HS-ST

Ngày 30/8/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trịnh Thị Thanh Hải và ông Trương Quang Ngọc.

- Thư ký phiên tòa:Ông Phạm Hữu Công - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thị Thu H, sinh năm 1976, nơi sinh: tỉnh Bình Định.Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M, sinh năm 1941 và bà Hồ Thị H1, sinh năm 1958, bị cáo có chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, đến nay có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt

Người làm chứng: Ông Đỗ Tấn N, sinh năm: 1980; Trú tại: Thôn P, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 10/2023, chồng của bị cáo H là ông Nguyễn Văn T đi làm phụ hồ ở huyện S, tỉnh Kon Tum thì gặp một người đàn ông tên thường gọi là T1 cũng vào làm cùng công trình với T. T1 nói với T là T1 có mối làm giấy phép lái xe trên mạng, chỉ cần chụp hình chân dung, chụp hình căn cước công dân và nộp 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) thì không phải đi thi mà sẽ được cấp Giấy phép lái xe hạng A1. T biết vợ chưa được cấp Giấy phép lái xe hạng A1 nên T gọi điện thoại cho H hỏi làm Giấy phép lái xe. Trần Thị Thu H đồng ý làm Giấy phép lái xe nên T nói T1 đặt làm Giấy phép lái xe cho vợ. Do T không có điện thoại cảm ứng nên T nhờ Đỗ Tấn N nhận hình chụp chân dung và thẻ căn cước công dân của bà H do Nguyễn Thị Lệ T2 là con gái của bà H gửi qua Zalo. Sau đó N gửi hình chụp chân dung và thẻ căn cước công dân của bị cáo Trần Thị Thu H qua Zalo cho T1. Khoảng 10 ngày sau, khi đang làm ở huyện S, tỉnh Kon Tum thì T1 đưa cho ông T một bì thư chuyển phát nhanh bên trong có 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Thị Thu H, số phôi: AA356035 do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 26/10/2023. T đưa lại cho T1 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền mua Giấy phép lái xe. Sau đó, ông T mang bì thư trên về đưa cho Trần Thị Thu H. Tuy nhiên, ông T nghi ngờ là Giấy phép lái xe giả nên nói vợ cất đi đừng sử dụng. Đến 06 giờ 55 phút ngày 18/01/2024, bà Trần Thị Thu H điều khiển xe mô tô biển số 77G1-435.95, nhãn hiệu Honda Wave lưu thông trên đường liên thôn P, xã Đ thì bị Tổ tuần tra Công an xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum tiến hành kiểm tra hành chính yêu cầu xuất trình giấy tờ. Do không mang giấy phép lái xe nên khoảng 09 giờ cùng ngày, Trần Thị Thu H đã về nhà lấy và xuất trình 01 (Một) giấy phép lái xe, số F, hạng A1. Quá trình làm việc, bà H khai nhận giấy phép lái xe này được đặt mua trên mạng xã hội. Công an xã Đ, thành phố K đã tiến hành lập biên bản và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 53/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1 số [...], số sê-ri AA356035, ngày 26/10/2023 mang tên Trần Thị Thu H, ngày sinh 15/02/1976, nơi cư trú: thôn P, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum là giả.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Th Thu H2, số phôi: AA356035 do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngày 26/10/2023; 01 (một) mô tô biển số 77G1-435.95, nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ đen, đã qua sử dụng;

* Việc xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe lưu hồ sơ vụ án; Trả lại 01 xe mô tô biển số 77G1-435.95, nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ đen, đã qua sử dụng cho bà Trần Thị Thu H.

Cáo trạng số112/CT-VKSTPKT ngày 08/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Trần Thị Thu H, về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm nông, chồng bị cáo đi làm phụ hồ, nguồn thu nhập của cả hai vợ chồng không ổn định để nuôi 2 con nhỏ, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng phạt bổ sung.

Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu giấy phép lái xe liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo trong hồ sơ vụ án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Trần Thị Thu H xin Hội đồng xét xử xem xét xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những vật chứng đã được thu giữ,

phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, tại đường L, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Bị cáo Trần Thị Thu H điều khiển xe mô tô biển số 77G1-435.95, nhãn hiệu Honda Wave thì bị Công an xã Đ kiểm tra hành chính, bị cáo H không mang giấy phép lái xe, sau đó bị cáo về nhà lấy và trình 01 (một) giấy phép lái xe, số [...], hạng A1 cho Công an xã Đ Hành bị cáo H đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là gian dối, trái pháp luật nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Thu Hà có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Tại phiên tòa, bị cáo khai rằng: Sau khi nhận được giấy phép lái xe giả, chồng bị cáo là ông Nguyễn Văn T biết là giấy phép lái xe giả nên nói với vợ bị cáo là bà Trần Thị Thu H cất đi và không sử dụng. Tuy nhiên, vào ngày 18/01/2024, tại đường liên thôn thôn P, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Bị cáo Trần Thị Thu H điều khiển xe mô tô biển số 77G1-435.95, nhãn hiệu Honda Wave thì bị Công an xã Đ kiểm tra hành chính, bị cáo H không mang giấy phép lái xe, sau đó bị cáo về nhà lấy và xuất trình 01 (một) giấy phép lái xe, số [...], hạng A1 cho Công an xã Đ Xét thấy, bị cáo làm nông, chồng bị cáo đi làm phụ hồ, nguồn thu nhập của cả hai vợ chồng không ổn định để nuôi 2 con nhỏ, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên xét xử cho bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục bị cáo, biết tôn trọng pháp luật và nhằm răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời không khấu trừ thu nhập, không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Văn T là người đã mua giấy phép lái xe giả hạng A1 cho bị cáo H. Tuy nhiên ông T khi nhận được giấy phép lái xe giả thì không sử dụng và đã yêu cầu bà H cất đi đừng sử dụng. Do đó, hành vi của ông T không đủ cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tuy nhiên, kiến

nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua bằng giả của ông Nguyễn Văn T.

Đối với đối tượng T1 là người đặt mua giấy phép lái xe giả hạng A1 trên mạng xã hội. Quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch, nên tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

[6] Về vật chứng:01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Th Thu H2, số phôi: AA356035 do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngà 26/10/2023 là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu H,phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum nhận được Quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Trần Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum, giám sát, giáo dục bị cáo; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Đ trong thời gian bị cáo cải tạo tại địa phương. Miễn khấu trừ thu nhập và phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng:Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Thị Thu H, số phôi: AA356035 do Sở Giao thông vận tải tỉnh K cấp ngà 26/10/2023.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Thị Thu H nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tp Kon Tum;
  • - CQ CSĐT Công an tp Kon Tum;
  • - Phòng HS Công an tỉnh Kon Tum;
  • - UBND;
  • - Chi cục THA DS tp Kon Tum;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thanh H làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger