Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-8-2024

“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt, ông Nguyễn Tất Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGD ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXX -HNGD ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Ông Trần Văn Toản, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

HKTT: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang cải tạo trại Trại giam H – Bộ C.

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 17/6/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Bà và ông Trần Văn T1 kết hôn và đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 14/9/1995. Trước khi kết hôn ông bà đã được tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn bà về nhà ông T1 làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, ông T1 không chịu khó làm ăn, thường xuyên chơi bời, nghiện ma tuý, hiện đang chấp hành án tại trại giam H. Nay bà xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Bà cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn T2.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1998 và Trần Quang Q, sinh năm 2003. Hiện cả 02 con chung đều đã trên 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh bình thường nên bà không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Bà và ông T2 tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyêt.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 19/6/2024 bị đơn ông Trần Văn Toản trình bày:

Ông xác định thời điểm kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn như bà T trình bày là đúng. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T xin ly hôn anh đồng ý ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông xác định vợ chồng có 02 con chung như bà T trình bày là đúng. Hiện cả 02 con chung đều đã trên 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh bình thường nên ông không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Ông và bà T tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyêt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Hoàng Thị T và bị đơn ông Trần Văn Toản đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của bà Hoàng Thị T và ông Trần Văn T1 trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
  • Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoàng Thị T được ly hôn với ông Trần Văn T1.
  • Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn với ông Trần Văn T1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Bà Hoàng Thị T và ông Trần Văn T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị xã T ngày 14/9/1995, như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị T và ông Trần Văn T1 là hợp pháp. Quá trình chung sống bà T và ông T1 đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, ông T1 chơi bời, nghiện ma tuý không chịu khó làm ăn và hiện đang phải đi chấp hành án phạt tù. HĐXX thấy: Thực tế bà T và ông T1 không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T, xử cho bà Hoàng Thị T được ly hôn ông Trần Văn T1.

[4]. Về con chung: Bà Hoàng Thị T và ông Trần Văn T1 đều xác định vợ chồng có Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1998 và Trần Quang Q, sinh năm 2003. Cả bà T và ông T1 đều xác định các con chung đã trên 18 tuổi, phát triển khỏe mạnh bình thường và không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Hoàng Thị T và anh Trần Văn T1 tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; Điều 39 khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 3; Điều 6; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T.

  1. Quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoàng Thị T và ông Trần Văn T1 được ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung: Không đặt ra xem xét giải quyết
  3. Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006237 ngày 19/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Trù Hựu;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Công Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị T ly hôn anh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger