TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NÔI Bản án số: 115/2024/HSST Ngày 12 tháng 07 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Sỹ Long
2. Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Đức Huy– Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/HSST ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo Trần Thị N, Sinh năm 1979; Nơi đăng ký HKTT: Không có; Nơi ở: Số A, ngõ A, tổ A, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Họ và tên bố: Trần Văn Đ (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C; Họ tên chồng: Lưu Quang T (sinh năm 1971, đã ly thân); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: 01 tiền sự đã hết thời hiệu. Ngày 04/02/2002, Công an phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc”. 02 tiền án đã được xóa án tích. Ngày 11/9/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, khoản án phí hình sự sơ thẩm và sung công quỹ nhà nước đã được đình chỉ ngày 06/6/2019. Ngày 06/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 27/4/2016, đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm ngày 06/11/2012. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h10 ngày 05/3/2024, tại khu vực ngã ba đường T - P, P.T, B, Hà Nội, đội CSĐT tội phạm về ma túy - Công an quận B qua kiểm tra đã phát hiện, bắt quả tang Trần Thị N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại tay phải của N 02 túi nilong trắng trong chứa chất bột trắng, N khai nhận là ma túy heroin mang đi bán cho người mua ma túy (BL: 48 – 49).
Ngoài thu giữ số ma túy trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Trần Thị N 1.200.000 đồng tiền Việt Nam tại tay trái, 40.000 đồng tiền Việt Nam tại túi quần trước bên trái, 01 ĐTDĐ Oppo màu vàng tại túi áo khoác ngoài bên trái và 01 xe máy Honda Vision màu xám BKS: 29F1 – 687.91. (BL 93). Tổ công tác đã đưa N cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Bản kết luận giám định số 1888/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K – C1 kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,597 gam” (BL: 98).
Tại cơ quan điều tra, Trần Thị N khai nhận: Khoảng trưa ngày 05/3/2024, khi N đang ở nhà tại số A ngõ A tổ A T, T, Hà Nội thì một người đàn ông tên H (bạn xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0522.679.xxx gọi vào số điện thoại 0964.792.xxx của N hỏi mua 01 túi heroin với giá 300.000 đồng. N đồng ý rồi đi đến khu vực cuối phố T mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi heroine hết 250.000 đồng. Sau đó, N bán lại cho H với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 20h30 ngày 05/3/2024, khi N đang ngồi trên phố T, T, Hà Nội, H tiếp tục gọi điện thoại hỏi mua của N 02 túi heroine với giá 1.200.000 đồng. N đồng ý và hẹn anh ta đến đầu phố P, Trúc B, B, Hà Nội để giao dịch. Thỏa thuận xong, N điều khiển xe máy nhãn hiệu Vision màu xám, BKS: 29F1-687.91 đến khu vực cuối phố T để tìm mua ma túy. Tại đây, N đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi heroine hết 800.000 đồng. Mua xong, N cầm 02 túi ni lông chứa heroine trong lòng bàn tay phải rồi đi xe máy đến ngã ba đường T - P, T, B, Hà Nội để bán ma túy. Đến nơi, N dừng xe và gọi điện thoại cho H. Một lúc sau, H đi bộ đến gặp N và đưa cho N 1.200.000 đồng tiền mua ma túy. N cầm tiền của H đưa bằng tay trái, khi đang định đưa 02 túi ni lông chứa heroine đang cầm trong tay phải cho H thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận B phát hiện bắt giữ. Lợi dụng sơ hở, H đã bỏ chạy thoát. Sau đó, công an đã đưa N cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Lời khai của Trần Thị N phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết quả giám định chất ma tuý, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Thị N, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. (BL 91).
Đối với đối tượng mua ma túy cho Trần Thị N, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. (BL 92)
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS: 29F1 – 687.91 thu giữ của N, cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh, xác định ông Lê Văn H1 là bạn của N (sinh năm: 1955; trú tại: A A9 A, Y, T, Hà Nội) là chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe cho ông H1. Ông H1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì (BL: 80)
Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Trần Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Thị N theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, xử phạt bị cáo Trần Thị N mức án từ 07 năm đến 08 năm tù;
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,597gam ma túy loại Heroine đã qua giám định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đã cũ thu giữ của bị cáo Trần Thị N; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.240.000.000 đồng là tiền thu giữ của bị cáo do bị cáo hưởng lợi bất chính từ việc bán ma túy; trong đó một lần vào buổi trưa ngày 05/3/2024, bị cáo được hưởng lợi 50.000đồng và khoảng 21h10 ngày 05/3/2024 bị cáo bán ma túy được 1.200.000đồng, vì vậy, tiếp tục truy thu của bị cáo N số tiền 10.000đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị N khai nhận toàn bộ hành vi của mình và trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của Phòng K- Công an thành phố H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
- Khoảng trưa ngày 05/3/2024, bị cáo Trần Thị N đã có hành vi bán trái phép cho H (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 túi ma túy Heroin với giá 300.000đồng. Khoảng 21h10 ngày 05/3/2024, tại khu vực ngã ba đường T - P, phường T, quận B, Hà Nội, bị cáo Trần Thị N tiếp tục có hành vi bán trái phép 0,597gam ma túy Heroin cho H thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an quận B bắt quả tang cùng vật chứng.
Trong đó, lần bán ma túy vào buổi trưa ngày 05/3/2024, bị cáo được hưởng lợi 50.000đồng và thu giữ của bị cáo 1.200.000đồng tiền bị cáo bán ma túy vào khoảng 21h10 ngày 05/3/2024.
Như vậy, bị cáo Trần Thị N đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Bị cáo N đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, phạm tội với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo Trần Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội « Mua bán trái phép chất ma túy» theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy là vấn nạn nhức nhối trong xã hội bởi những tác hại rất lớn mà ma túy gây ra cho sức khỏe con người, ma túy cũng là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo có 02 tiền án và 01 tiền sự mặc dù được xóa án tích và hết thời hiệu, song thể hiện bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không chịu tu dưỡng, cải tạo, sửa đổi bản thân mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã ăn năn hối cải và khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét để giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng là thể hiện tính chất khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, về mức hình phạt Viện kiểm sát đề xuất chưa phù hợp nên không được chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,597 gam ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ của các thành phần tham gia và bị cáo Trần Thị N.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.240.000đồng thu giữ của bị cáo Trần Thị N và truy thu số tiền 10.000đồng trong đó 1.200.000đồng là tiền bị cáo bán ma túy vào khoảng 21h10' ngày 05/3/2024 và 50.000đồng là tiền bị cáo được hưởng lợi từ lần bán ma túy buổi trưa ngày 05/3/2024.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đã cũ thu giữ của bị cáo Trần Thị N, bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,597 gam ma túy loại Heroin đã qua giám định bên ngoài có chữ của các thành phần tham gia và bị cáo Trần Thị N.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.240.000đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Trần Thị N; truy thu của bị cáo Trần Thị N số tiền 10.000đồng (Mười nghìn đồng).
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đã cũ thu giữ của bị cáo Trần Thị N.
- Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 157 ngày 17/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào Ngân hàng TMCP C2 ngày 17/6/2024.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người liên quan có quyền kháng cáo về vấn đề liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
Bản án số 115/2024/HSST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 115/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm Trần Thị N
