Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09 tháng 7 năm 2024

“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trần Văn Giang.
  • - Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 102/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 21973 (Có mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Võ Văn D, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Võ Văn D sống chung với nhau như vợ chồng năm 1995, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau vào ngày 19 tháng 6 năm 2008 (Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2008). Quá trình chung sống, thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau giữa bà và ông Võ Văn D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông D thường xuyên bỏ nhà đi không quan tâm đến gia đình. Bà và ông D đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn D.

Về con chung: Quá trình sống chung giữa bà Nguyễn Thị H và ông Võ Văn D có 02 người con chung tên Võ Quốc A, sinh năm 1996 và Võ Ngọc T, sinh năm 1998. Hiện hai người con chung đã trưởng thành, đủ khả năng nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Võ Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Võ Văn D vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị H với ông Võ Văn D được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Võ Văn D là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án ông Võ Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Võ Văn D.

[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H với ông Võ Văn D sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1996, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 19 tháng 6 năm 2008 (Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2008). Do đó, hôn nhân của bà Nguyễn Thị H với ông Võ Văn D là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H xác định, sau thời gian sống chung, bà và ông Võ Văn D bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Văn D. Đối với ông Võ Văn D, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Võ Văn D vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng và cũng không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Nguyễn Thị H đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn D một thời gian dài nhưng ông Võ Văn D không có ý kiến gì, bà Nguyễn Thị H cho rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông Võ Văn D phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Điều đó cho thấy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H với ông Võ Văn D đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Võ Văn D.

[4] Về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình sống chung bà Nguyễn Thị H và ông Võ Văn D có 02 người con chung. Hai người con chung đã trưởng thành và tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

  • - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H với ông Võ Văn D.
  2. Án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 02 tháng 4 năm 2024, bà Nguyễn Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003378 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Võ Văn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn B

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger