|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 17-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Ông Đặng Huy Du
- Ông Đỗ Trọng Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hương- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Trọng T, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1993 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 01 tháng 24 ngày). Nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L (đã chết) và bà Hoàng Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 22/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/12/2023; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị H1- Luật sư của Văn phòng L3 và Cộng sự, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thu T1, sinh năm 1988 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại.
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1964 và bà Chu Thị T2, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (là bố mẹ của bị hại); có mặt.
- Cháu Nguyễn Tuấn D, sinh ngày 17/8/2007; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (là con của bị hại); có mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu D: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng (là bố của cháu D); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T nhận được tin báo: Khoảng 17 giờ ngày 06/12/2023 ông Nguyễn Văn Q (sinh năm 1972, nơi cư trú: thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng) phát hiện trong bể chứa nước thải ở vườn sau nhà ông Q có 01 xương sọ dưới đáy bể. Ông Q đã dùng chiếc cào vớt lên được 01 số bộ phận xương nghi là xương người lẫn cùng bùn đất, đổ sang bên cạnh miệng bể.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm bộ hài cốt, thu thập tài liệu, vật chứng liên quan.
* Khám nghiệm hiện trường khu vực nhà ông Nguyễn Văn Q ngày 07/12/2023 xác định:
Hiện trường phát hiện vụ việc tại khu vực bể chứa nước thải. Bể chứa nước thải kích thước: 1,82m x 1,65m, sâu 0,78m, phần xây nổi cao cách mặt nền vườn trung bình 0,2m, cách tường phía bắc tương ứng chuồng chăn nuôi 0,5m, cách góc tây bắc tương ứng nhà kho 3,46m. Góc phía tây bắc có 01 nắp bể để trống kích thước: 0,63m x 0,6m, phần còn lại của nắp đổ bê tông liền, kín dày 0,09m. T nắp bể phía bắc và phía tây xây gạch chỉ chưa trát xi măng (loại gạch hai lỗ) và có phần để trống rộng 0,1m nước có thể tràn ra ngoài. Phía dưới lớp bê tông còn bám dính một số mảnh bao dứa (dạng bao xi măng). Mực nước hiện tại của bể chứa là 0,66m, nước đục. Tiến hành hút hết nước trong bể chứa, kiểm tra bên trong có:
- 01 xương hộp sọ kích thước 20cm x 13cm 14cm, hàm trên còn 05 răng; 01 xương hàm dưới còn 05 răng và 03 răng rời. Xương thái dương trái bị nứt vỡ nún; 02 xương đòn ngấm bùn màu đen. 11 xương đốt sống, 08 xương sườn; 02 xương cánh chậu; 01 khối xương cùng cụt; 01 xương cẳng tay; 02 xương đùi; 02 xương bánh chè; 02 xương chày; 02 xương mác; nhiều xương bàn tay, bàn chân. Các xương ngấm bùn đất màu đen ở nhiều vị trí.
- 01 quần vải dài màu nâu, ống dài 0,88m, khóa quần, cúc quần ở trạng thái đóng, một phần cúc bị han rỉ; hai túi quần trước viền trắng hình lượn sóng, bên trong túi quần không có đồ vật, tài sản gì. 01 quần lót màu đỏ (dạng quần nữ), cạp chun, tại phần cạp chun có chữ "XIANG FEILI", viền quần lót dạng ren. 01 chiếc cúc bằng nhựa đường kính 1,3cm, viền màu đen, ở giữa màu trắng (dạng cúc đính khuy ở mặt sau). 01 đoạn dây điện gồm hai đoạn nối với nhau dài 4,92m, loại dây đơn một lõi bằng nhựa màu trắng, đường kính 0,003m. 01 dây vải (dạng dây co dãn) gồm hai đoạn khâu hai đầu dây lại với nhau, mỗi dây dài 0,28m, đường kính 0,005m. 02 chiếc tất vải màu đỏ, hoa văn màu đen trắng, mỗi tất dài 0,29m, phần cổ chân rộng 0,09m, bên trong một chiếc tất còn một số mảnh xương (dạng xương chi). 07 viên gạch chỉ hai lỗ màu đỏ, mỗi viên kích thước: 21,5cm x 10,5cm x 9cm. 06 mảnh vôi vữa bê tông, mảnh to nhất kích thước: 0,3m x 0,19m x 0,1m.
Các đồ vật mô tả trên bám dính bùn màu đen xen lẫn nhiều đoạn cành cây, gỗ đã mục bám dính bùn màu đen. Ngoài ra trong bể chứa còn một số mảnh gạch, vôi vữa bê tông nhỏ.
* Ngày 14/12/2023, Cơ quan điều tra tiếp tục khám nghiệm hiện trường, sàng lọc, đãi lớp đất bùn xung quanh vị trí bể chứa phát hiện thêm: 12 chiếc răng; 02 đốt sống cổ; 04 xương bàn chân; 01 xương trụ; 02 xương sườn; một số xương đốt bàn tay, bàn chân, kiểm đếm có 44 xương. 03 chiếc cúc bằng nhựa đường kính 1,3cm, viền màu đen, ở giữa màu trắng (dạng cúc đính khuy ở mặt sau). 01 dây vải chun màu trắng dài 40m, bản rộng 1,3cm.
* Khám nghiệm tử thi xác định:
- + Khám bên ngoài: Không xác định được trang phục.
- + Nhận dạng tử thi: Một phần bộ xương người đã phân hủy hoàn toàn phần mềm. Chiều dài tử thi: Dựa vào chiều dài xương đùi ước chiều cao nạn nhân từ 1,55m đến 1,6m. Tình trạng tử thi: Một phần bộ xương người đã phân hủy hoàn toàn phần mềm.
- + Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: 01 xương hộp sọ kích thước 20cm x 13cm 14cm, hàm trên còn 05 răng; 01 xương hàm dưới còn 05 răng và 03 răng rời. Xương thái dương trái bị nứt vỡ nún. 02 xương đòn, 11 xương đốt sống, 08 xương sườn, 02 xương cánh chậu, 01 khối xương cùng cụt, 01 xương cẳng tay, 02 xương đùi, 02 xương bánh chè, 02 xương chày, 02 xương mác, nhiều xương bàn tay, bàn chân; các xương ngấm bùn đất màu đen ở nhiều vị trí, chưa phát hiện dập gãy.
Cùng với việc tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành rà soát các trường hợp mất tích tại địa phương thấy: Ngày 09/12/2010 gia đình bà Phan Thị Đ đến cơ quan Công an xã L trình báo việc chị Nguyễn Thu T1 đi giao ga từ 12 giờ ngày 09/12/2010 đến 17 giờ cùng ngày không thấy về. Chị T1 kết hôn cùng anh Nguyễn Văn T3 (là con của bà Đ), có 01 con chung là cháu Nguyễn Tuấn D. Bố mẹ của chị T1 là ông Nguyễn Văn L1, bà Chu Thị T2. Khi đi, chị T1 mặc quần bò lửng màu xanh, áo thun dài tay có khoá màu hồng, thường xuyên đi tất. Chị T1 thường đeo 01 đôi bông tai dạng nhẫn đường kính khoảng 4cm bằng vàng tây, 01 dây chuyền bằng vàng tây, 01 nhẫn bằng vàng tây từ trước khi lấy chồng. Đến ngày 10/12/2010 gia đình đã tìm thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh đậm, biển kiểm soát 16-0345 (gia đình không nhớ đầy đủ ký hiệu biển kiểm soát) của chị T1 ở dưới cửa cống 32 gần nghĩa trang P, xã L, huyện T. Gia đình đã bán chiếc xe này cho người không quen biết.
* Tại các Kết luận giám định hài cốt số 9085/KL-KTHS, số 9103/KL-KTHS ngày 14/12/2023, số 9312/KL-KTHS và số 9331/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của V- Bộ C, xác định: Các xương gửi giám định là xương của một người trưởng thành; giới tính: Nữ; độ tuổi: Từ 20 đến 25 tuổi. Không có cơ sở xác định thời gian chết. Trên xương sọ có các đường vỡ xương ở vùng thái dương hai bên. Các tổn thương trên xương sọ do vật tày gây ra. Trên các xương và răng gửi giám định không có tổn thương. Giám định ADN xác định: Có quan hệ huyết thống con đẻ - mẹ đẻ với bà Chu Thị T2.
Xác định bộ hài cốt nêu trên là của chị Nguyễn Thu T1 là người đã bị mất tích ngày 09/12/2010. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao toàn bộ số xương nêu trên cho đại diện gia đình mai táng.
* Ngày 21/12/2023, Bùi Trọng T đến cơ quan Công an đầu thú, khai nhận:
Khoảng 13 giờ hơn ngày 09/12/2010, Bùi Trọng T đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thu T1 bảo chị T1 chở cho 01 bình ga mới về nhà bà H là mẹ đẻ của T để thay ga. Khoảng 15 phút sau, chị T1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đậm, chở theo 01 bình ga màu xanh loại 25kg đến nhà T, đỗ xe trước cửa bếp, đầu xe hướng vào cửa bếp. T bảo chị T1 vào bếp thay bình ga mới, chị T1 kiểm tra bình ga cũ phát hiện chưa hết ga. Nhưng T bảo là bình ga nấu lửa đỏ, bị đen nồi, nên chị T1 đã thay bình ga mới cho T. Khi chị T1 thay bình ga thì T đứng ở cửa bếp, phía sau lưng chị T1 cách khoảng 01m, thấy ở cổ chị T1 đeo 01 dây chuyền bằng vàng. Do thời gian này T thường xuyên đánh bạc dẫn đến nợ nhiều tiền, nên T nảy sinh ý định cướp dây chuyền của chị T1, để bán lấy tiền trả nợ. Sau khi thay xong bình ga mới, chị T1 kéo bình ga cũ ra gần cửa bếp thì T bảo là ga vẫn hở và yêu cầu chị T1 quay lại kiểm tra. Khi chị T1 vừa xoay người sang trái định quay vào kiểm tra bình ga, T liền dùng tay phải túm dây chuyền và cổ áo chị T1 phía bên vai phải. T bất ngờ giật mạnh, làm chị T1 bị ngã về bên phải, đập mạnh thái dương phải xuống nền gạch cửa cửa bếp. Lúc này T thấy tai và mũi chị T1 bị chảy máu, hai chân co giật, miệng chị T1 kêu ớ ớ. T liền dùng tay phải bịt mồm và mũi chị T1 khoảng 10-15 giây, thì thấy chị T1 không kêu nữa, không còn thở, chân tay bất động không còn phản kháng. T nghĩ chị T1 đã chết. T bế chị T1 ra bể chứa nước thải. T đút 02 chân chị T1 xuống trước qua miệng bể, thì bị trượt tay làm chị T1 bị rơi vào trong bể, phần thái dương bên trái của chị T1 bị đập mạnh xuống nền đáy bể. T chui xuống dưới bể, kéo người chị T1 vào sát với cạnh phía cuối bể. T lấy toàn bộ số trang sức bằng vàng trên người chị T1 gồm: 01 dây chuyền, 02 vòng đeo tai và 01 nhẫn có đính mắt đá, rồi đút vào túi quần bên trái của T đang mặc. Sau đó, T giặt vỏ bao xi măng (dùng để lót mặt dưới khi đổ bê tông thành nắp bể) phủ lên người chị T1. T quay lại khu vực bếp, lau sạch máu của chị T1 trên nền bếp, rồi mang đôi dép sục của chị T1 lên khu đổ rác ở máng khai thác đá vát. Do chiếc áo đang mặc bị dính vết máu của chị T1, nên T thay mặc 01 chiếc áo phông cổ tròn màu tím, chiếc áo dính máu T đem ra khu rác thải ở máng đá vát.
Sau đó, T quay lại khu vực sân nhà thấy còn chiếc xe máy của chị T1. Do sợ mọi người sẽ phát hiện ra, nên T điều khiển xe máy của chị T1 theo lối qua máng khai thác đá, đi ra khu cống 32 gần nghĩa trang P, xã L, huyện T, nơi ít người qua lại, nhân ga, phi xe máy của chị T1 xuống đầm cạnh cửa cống.
Đến ngày 11/12/2010 T quay lại bể chứa nước thải nơi giấu xác chị T1. Thấy miệng bể không có nắp, sợ bị người khác phát hiện, T lấy vôi, đá mạt, xi măng trộn với nước thành vữa xây dựng, rồi lấy 01 thanh sắt dài khoảng 70cm và 3-4 cành cây khô đặt lên chỗ nắp bể. T phủ vôi bao xi măng lên, đổ vữa lên trên, làm thành nắp che kín miệng bể.
Khoảng 5-6 ngày sau, T mang số vàng chiếm đoạt được của chị T1 đến 01 cửa hàng vàng nhỏ ở xã Q (T không nhớ tên và địa chỉ của cửa hàng) bán cho một người đàn ông khoảng 35 đến 45 tuổi được số tiền hơn 3.000.000 đồng. Số tiền này, T đánh bạc và chi tiêu cá nhân hết.
Tại Cáo trạng số 100/CT- VKS-P2 ngày 21/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Bùi Trọng T về tội Giết người theo điểm e, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự và tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm e, n khoản 1 Điều 123, khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 38, 55, 91, 101, 103 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 17 năm đến 18 năm tù về tội Giết người, từ 04 năm đến 05 năm tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 18 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 586, 589, 591 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thoả thuận bồi thường (về mai táng phí, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng nuôi cháu D và thiệt hại về tài sản) của gia đình bị hại và bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng đã thu giữ trong vụ án.
- Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên. Trong suốt 13 năm qua bị cáo luôn day dứt về hành vi của mình và nhiều lần định ra tự thú. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đồng ý với toàn bộ yêu cầu bồi thường của gia đình bị hại.
Người bào chữa trình bày: Đồng ý với tội danh, điều luật truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tại thời điểm bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi để áp dụng chính sách hình sự khoan hồng đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Những người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần là 500.000.000 đồng và bồi thường trị giá số vàng mà chị T1 bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Tuấn D, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Anh Nguyễn Văn T3 trình bày: Anh đề nghị áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Anh không đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo với lý do bị cáo tác động đến gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Vì gia đình bị hại chưa nhận được bất kỳ khoản tiền bồi thường nào. Anh T3 đã ly hôn với chị Nguyễn Thu T1 theo Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 88/2018/HNGĐ-ST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh T3 là người đang trực tiếp nuôi dưỡng và giám hộ hợp pháp của cháu Nguyễn Tuấn D. Số tài sản chị T1 bị chiếm đoạt là tài sản riêng của chị T1, anh không ý kiến. Anh đề nghị bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền giá trị tài sản chị T1 bị chiếm đoạt cho cháu D như yêu cầu của cháu D, ông L1, bà T2 và tiền cấp dưỡng nuôi cháu D (một lần) từ khi chị T1 chết đến khi cháu D đủ 18 tuổi là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng một tháng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Bà Phan Thị Đ trình bày: Bà Đ là người tổ chức và thanh toán chi phí mai táng chị T1 với số tiền 170.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường 30.000.000 đồng. Nay, bà yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 140.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - Bà Hoàng Thị H trình bày: Bà đồng ý với yêu cầu bồi thường của những người đại diện hợp pháp của bị hại. Bà sẽ có trách nhiệm cùng bị cáo bồi thường. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên bà chỉ có thể bồi thường dần trong khả năng của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 09/12/2010, tại nhà của bị cáo Bùi Trọng T ở thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng, bị cáo đã có hành vi dùng tay phải túm dây chuyền và cổ áo bên phải của chị T1, bất ngờ giật mạnh làm chị T1 bị ngã về bên phải. Thái dương phải của chị T1 bị đập mạnh xuống nền gạch, làm vỡ phần xương sọ bên phải của chị T1. Khi thấy chị T1 rên la, T tiếp tục dùng tay phải bịt miệng và mũi của chị T1 đến khi chị T1 bị chết. Sau đó, T mang thi thể chị T1 giấu tại bể chứa nước thải phía sau nhà, rồi chiếm đoạt của chị T1 01 dây chuyền vàng, 02 hoa tai vàng, 01 nhẫn vàng có đính đá, đem bán được khoảng 3.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã tước đoạt tính mạng đồng thời xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội Giết người theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự và tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt đối với tội Giết người:
[3] Bị cáo giết người ngay sau đó lại thực hiện tội Cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là tội rất nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
[4] Chỉ vì mục đích trả nợ do cờ bạc, bị cáo đã thực hiện liên tiếp 2 tội phạm là Giết người và Cướp tài sản. Sau khi giật mạnh sợi dây chuyền và cổ áo của chị T1 làm chị T1 ngã xuống sàn, bị cáo tiếp tục dùng tay bịt mồm và mũi chị T1 cho đến khi chị T1 chết. Sau đó bị cáo đi tìm nơi giấu xác chị T1, lấy tài sản của chị T1 và thu dọn hiện trường, xoá bỏ các dấu vết của tội phạm. Chuỗi hành vi của bị cáo cho thấy sự quyết liệt, tính chất côn đồ trong việc thực hiện hành vi của bị cáo. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[5] Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7.1] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã đầu thú; là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7.2] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bà Phan Thị Đ xác nhận đã nhận số tiền 30.000.000 đồng của gia đình bị cáo, được trừ vào số tiền mai táng phí. Bị cáo và mẹ của bị cáo khai bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường số tiền trên cho gia đình bị hại. Vì vậy, quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” là có căn cứ chấp nhận.
[8] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét bị cáo phạm 02 tội trong đó 01 đặc biệt nghiêm trọng, 01 tội rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, nhận thức xã hội còn chưa đầy đủ nên bị cáo được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi theo Điều 91 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Theo Điều 101 của Bộ luật Hình sự, mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với bị cáo (từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội) là không quá 18 năm tù.
[9] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo phạm nhiều tội nên cần tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tổng hợp của hai tội theo Điều 103 của Bộ luật Hình sự. Theo đó, hình phạt tổng hợp của bị cáo không quá 18 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự:
[10] Xét tại phiên toà bị cáo, mẹ của bị cáo là bà Hoàng Thị H đồng ý với toàn bộ yêu cầu bồi thường của bà Phan Thị Đ, ông Nguyễn Văn L1, bà Chu Thị T2, cháu Nguyễn Tuấn D và anh Nguyễn Văn T3. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 586, 589, 591 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường của bà Đ, ông L1, bà T2, cháu D và anh T3, cụ thể như sau:
[10.1] Chấp nhận yêu cầu bồi thường về tiền mai táng phí còn lại là 140.000.000 đồng của bà Đ.
[10.2] Chấp nhận yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần là 500.000.000 đồng.
[10.3] Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản do bị hại bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng.
[10.4] Về yêu cầu bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Tuấn D: Xét cháu D là con đẻ của bị hại. Bị hại có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D (chưa thành niên), khi không sống chung với cháu D, theo Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh T3 buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng nuôi cháu D từ thời điểm bị hại chết (ngày 09/12/2010) đến thời điểm cháu D đủ 18 tuổi (ngày 17/8/2025) theo điểm c khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự, với mức 2.000.000 đồng/tháng: 176 tháng 9 ngày x 2.000.000 đồng/tháng = 352.600.000 đồng.
[11] Về những người được nhận bồi thường tổn thất tinh thần và bồi thường thiệt hại về tài sản của bị hại: Bị hại có bố, mẹ là ông Nguyễn Văn L1, bà Chu Thị T2 và con đẻ là cháu Nguyễn Tuấn D. Bị hại không có con nuôi, bố mẹ nuôi. Chồng của bị hại là anh Nguyễn Văn T3, đã ly hôn. Anh T3 xác nhận số tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là tài sản riêng của bị hại. Vì vậy, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị hại gồm: Ông Nguyễn Văn L2, bà Chu Thị T2, cháu Nguyễn Tuấn D được nhận bồi thường tổn thất tinh thần và bồi thường thiệt hại về tài sản của bị hại, theo các điều 612, 613 và 651 của Bộ luật Dân sự.
[12] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo trên 15 tuổi, dưới 18 tuổi. Vì vậy, căn cứ Điều 586 của Bộ luật Dân sự và Điều 4 Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, bị cáo phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì mẹ của bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình (bố của bị cáo đã mất).
- Về xử lý vật chứng:
[13] Cơ quan Công an đã thu giữ trong vụ án các đồ vật gồm: 01 quần vải, 01 quần lót, 01 đoạn dây điện, 02 chiếc tất vải màu đỏ, 07 viên gạch chỉ hai lỗ, 06 mảnh vôi vữa bê tông, không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[14] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm e, n khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 38, 91, 101, 103 của Bộ luật Hình sự đối bị cáo Bùi Trọng T.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng T phạm các tội “Giết người” và “Cướp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Trọng T 17 (mười bảy) năm tù về tội “Giết người” và 4 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585, 586, 589, 591, 612, 613 và 651 của Bộ luật Dân sự.
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Phan Thị Đ số tiền mai táng phí là 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn L1, bà Chu Thị T2 và cháu Nguyễn Tuấn D số tiền tổn thất tinh thần là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và số tiền thiệt hại về tài sản mà bị hại bị chiếm đoạt là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T3 số tiền cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Tuấn D là 352.600.000 đồng (ba trăm năm mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Trường hợp bị cáo không đủ tài sản để bồi thường các khoản trên thì bà Hoàng Thị H (mẹ của bị cáo) phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) quần vải dài ống màu nâu, ống dài 0,88m, một phần cúc bị han rỉ; hai túi quần trước viền trắng; 01 (một) quần lót màu đỏ, cạp chun, tại phần cạp chun có chữ “XIANG FEILI”, viền quần lót dạng ren; 01 (một) chiếc cúc bằng nhựa đường kính 1cm, viền màu đen, ở giữa màu trắng.
- 01 (một) đoạn dây điện gồm hai đoạn nối với nhau dài 4,92m, loại dây đơn một lõi bằng nhựa màu trắng, đường kính 0,003m.
- 01 (một) dây vải gồm hai đoạn khâu lại với nhau, mỗi dây dài 0,28m, đường kính 0,005m.
- 02 (hai) chiếc tất vải màu đỏ, hoa văn màu đen trắng, mỗi tất dài 0,29m, phần cổ chân rộng 0,09m.
- 07 (bảy) viên gạch chỉ hai lỗ màu đỏ, mỗi viên kích thước: 21,5cm x 10,5cm x 9cm.
- 06 (sáu) mảnh vôi vữa bê tông, mảnh to nhất kích thước: 0,3m x 0,19m x 0,1m.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 42.678.000 đồng (bốn mươi hai triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |
|
THẨM PHÁN Trần Thị Vân Thuý |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (giết người và cướp tài sản)
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người và Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội giết người
