Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 06-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Mai

Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 06 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/HSST ngày 25/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 22/05/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Anh T; Giới tính: Nam; sinh năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 3 X, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Minh T1 và bà Nguyễn Kim L; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Lê Hoàng M Q và có 01 người con, sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/01/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 07/HSST; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/10/2023 (có mặt).
  2. Trần Ngọc P; Giới tính: N; sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: E B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Ngọc Q1 (đã chết) và bà Bùi Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 07/04/2022, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 117/HSST; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/10/2023 (có mặt).
  3. Nguyễn Thanh B; Giới tính: N; sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 1 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: 479/9/7 Hương lộ B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Xuân C (đã chết) và bà Hoàng Kim K; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Sơn Thị Mỹ T2 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/08/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 67/HSST; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 19/03/2024 (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 2002; Địa chỉ: 5 N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ( Có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 02/10/2023, anh Nguyễn Quốc D điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Future biển số 78M1-137.70 đến khách sạn T6 số F đường L, phường A, quận G thuê phòng để nghỉ qua đêm. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, anh Nguyễn Quốc D trả phòng đi về thì phát hiện xe gắn máy biển số 78M1-137.70 đã bị mất nên trình báo Công an Phường 15, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh .

Qua kiểm tra hình ảnh camera phát hiện khoảng 00 giờ 44 phút ngày 03/10/2023, có 01 nam thanh niên thuê phòng tại khách sạn đã lấy trộm xe gắn máy của anh Nguyễn Quốc D rồi tẩu thoát. Kiểm tra thông tin lưu trú của khách sạn, xác định người đi cùng với khách nam lấy trộm xe gắn máy của anh Nguyễn Quốc D là Lê Hoàng Mỹ Q2 (Sinh năm 2003, ngụ tại số I, đường P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở số C đường T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh). Qua làm việc Lê Hoàng Mỹ Q2 được biết: người khách nam đi cùng thuê phòng khách sạn là Lê Anh T (là chồng cũ của Lê Hoàng Mỹ Q2).

Quá trình điều tra xác định vào trưa ngày 02/10/2023, Lê Anh T điều khiển xe gắn máy hiệu Attila, màu trắng biển số: 59S1-346.86 (xe của vợ tên Lê Hoàng Mỹ Q2) chở vợ và con tên Lê Hoàng Bảo K1 (sinh năm 2020) vào thuê phòng 402 của khách sạn T7 để lưu trú. Đến 12 giờ 30 ngày 02/10/2023, Lê Anh T để vợ con lại khách sạn rồi đặt xe grab đến phòng 208 khách sạn E, địa chỉ số A đường L, phường F, quận G để sử dụng ma túy đá với Trần Ngọc P. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì Lê Anh T về khách sạn T7 lấy xe gắn máy chở vợ con về nhà vợ ở quận B rồi đưa xe cho vợ. Sau đó, Lê Anh T đặt xe G quay lại khách sạn T7 lên phòng đã thuê trước đó nghỉ ngơi và nằm chơi game đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, Lê Anh T đi xuống quầy lễ tân lấy nước uống thì nhìn thấy anh Nguyễn Thanh N1 là bảo vệ của khách sạn đang ngủ, Lê Anh T nhìn thấy có 01 xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số: 78M1 – 137.10 sử dụng ổ khóa cơ nên nảy sinh ý định lấy trộm xe gắn máy này bán lấy tiền tiêu xài. Lê Anh T quay lại phòng thay quần áo, dọn dẹp đồ đạc đến khoảng 00 giờ 45 phút cùng ngày đi xuống quầy lễ tân vẫn thấy anh Nguyễn Thanh N1 đang ngủ nên dùng chìa khoá đem theo sẵn mở khóa xe gắn máy trên dắt xe ra ngoài đồng thời gọi anh Nguyễn Thanh N1 dậy mở cửa. Lúc này anh Nguyễn Thanh N1 tưởng là xe của Lê Anh T nên mở cửa cho Lê Anh T dắt xe ra ngoài. Khi vừa ra ngoài, Lê Anh T lấy đoản cất giấu sẵn trong túi bẻ khóa xe, nổ máy và chạy đến khách sạn E để gặp Trần Ngọc P để bán xe gắn máy trên. Khi đến khách sạn E Lê Anh T gọi Trần Ngọc P xuống kiểm tra xe vừa trộm được. Trần Ngọc P biết xe do Lê Anh T trộm cắp được mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 5.000.000 đồng, sau đó Trần Ngọc P mang xe gắn máy trên đi gửi ở bãi giữ xe bệnh viện N4, đến khoảng 6 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, Trần Ngọc P gửi hình xe gắn máy trên cho Nguyễn Thanh B có nick zalo “Heo Lai” chào bán xe với giá 6.500.000 đồng. Nguyễn Thanh B biết là xe phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 5.700.000 đồng và hẹn giao nhận xe tại trước địa chỉ số D đường H, phường B, quận B. Sau đó, Nguyễn Thanh B tiếp tục đăng tin bán xe lên mạng xã hội Facebook với giá 8.800.000 đồng thì có 01 thanh niên (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho Nguyễn Thanh B thoả thuận mua chiếc xe trên với giá 8.000.000 đồng và hẹn giao nhận xe tại trước địa chỉ số C đường P, phường H, quận T. Riêng Lê Anh T, sau khi bán xe cho Trần Ngọc P đã đi chơi game và thuê khách sạn trên đường L để ngủ. Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 04/10/2023, Lê Anh T bị Công an quận G mời về trụ sở làm việc và Lê Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm xe gắn máy như đã nêu trên. Số tiền bán xe Lê Anh T đã tiêu xài cá nhân hết (BL:65-78).

+ Vật chứng thu giữ của Lê Anh T:

  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 59U2–117.39 số máy: JA39E-0399371, số khung: RLHJA3909HY424232 ( Lê Anh T lấy trộm tại tiệm Internet số 281 đường N, phường A, quận B và cầm cố ở tiệm C1 địa chỉ số D đường P, phường A, quận G.
  • 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca Cola (loại 390ml) và 01 chai nhựa nhãn hiệu Number One (loại 330 ml) thu giữ tại phòng 402 Khách sạn T nơi Lê Anh T lưu trú.
  • 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh Lê Anh T đang thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy biển số 78M1 - 13770.

Căn cứ Bản kết quả định giá tài sản số 191/KLGĐ ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G kết luận 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 78M1-137.70, số máy JC76E-0303918, số khung RLHJC7627JZ001608 đã qua sử dụng trị giá là 19.466.667 đồng (BL:303).

Từ lời khai của Lê Anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra khách sạn E, phát hiện Trần Ngọc P đang lưu trú tại phòng 110. Kiểm tra đồ dùng cá nhân của Trần Ngọc P phát hiện có 01 gói ni lông chứa tinh thể rắn không màu (Trần Ngọc P khai là ma tuý tổng hợp), Trần Ngọc P mua của một đối tượng không rõ lai lịch ở dưới chân cầu vượt H, quận B với giá 1.000.000 đồng để sử dụng nên đã tiến hành thu giữ và đưa Trần Ngọc P về Cơ quan Công an làm việc, đồng thời thu giữ một số vật chứng cụ thể:

  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 24K7–3717 số máy: HC09E-5055047, số khung: RLHHC09075Y025130 Trần Ngọc P sử dụng để tại Khách sạn E mua từ một người không rõ lai lịch
  • 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy Note 9, màu hồng, số IMEI1: 355534100063717 (Trần Ngọc P sử dụng liên lạc mua bán xe do phạm tội mà có); chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ. (Bị cáo Nguyễn Thanh B sử dụng liên lạc mua bán xe do phạm tội mà có.)
  • 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Trần Ngọc P, hình dấu Công an phường 6, G.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 11142/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,83264 gam chứa trong túi niêm phong bên ngoài có chữ ký Trần Ngọc P, hình dấu Công an phường 6, G là ma tuý đá, có khối lượng 1,8264 gr, loại Methamphetamine (BL:314).

Mẫu vật còn lại sau khi đã phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 1,8264g được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra.

Qua xác minh, xe gắn máy hiệu Wave biển số: 24K7–3717 có số máy: HC09E-5055047, số khung: RLHHC09075Y025130 do Công ty TNHH X, địa chỉ số C, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai là chủ sở hữu. Ông Nguyễn Nhật L1 (sinh năm 1963) là giám đốc cho công ty TNHH X cho biết bản thân và nhân viên công ty không sở hữu và sử dụng xe gắn máy có thông tin như trên. Ngoài ra, Công ty TNHH X đã giải thể vào năm 2014.

Từ lời khai của Trần Ngọc P, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thanh B tại số D đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G thu giữ số tiền 8.000.000 đồng là tiền Nguyễn Thanh B bán xe gắn máy biển số: 78M1-137.70; Ngoài ra Công an còn thu giữ 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 63B7-347.75 và 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 98F1-436.37.

Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Honda Airblade gắn biển số 63B7-347.75 (không giấy tờ xe) Nguyễn Thanh B mua với giá 7.000.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua xác minh xe Honda Airblade gắn biển số 63B7-347.75 là do anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1992, ngụ tại E đường số C, khu S, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Anh Nguyễn Văn M1 khai đã bị mất xe trên vào ngày 24/09/2023 tại địa chỉ cư ngụ và anh đã trình báo Công an phường P, quận G. Cơ quan điều tra Công an quận G đã gửi văn bản đến Cơ quan điều tra Công an quận G1 về việc tiếp nhận vật chứng theo thẩm quyền nhưng chưa có kết quả trả lời.

Xe gắn máy hiệu Honda Vision gắn biển số 98F1-436.37 được Nguyễn Thanh B mua với giá 16.000.000 đồng của Cửa hàng xe máy Bảo Trọng có giấy chứng nhận đăng ký xe (photo công chứng), chủ xe là bà Trần Thị B1 (sinh năm 1969, ngụ tại Đ, L, Bắc Giang), giấy mua bán xe với cửa hàng Bảo T3 và giấy biên nhận thế chấp xe gắn máy trên của công ty T8 (F). Qua xác minh xe máy Honda Vision biển số 98F1-436.37 là do bà Trần Thị B1, sinh năm 1969, ngụ tại Đ, L, Bắc Giang là chủ sở hữu. Cơ quan điều tra Công an quận G đã gửi uỷ thác điều tra cho Cơ quan điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang để ghi lời khai bà Trần Thị B1 nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Tiến hành ghi lời khai anh Nguyễn Bảo T4 (chủ cửa hàng xe Bảo Trọng), sinh năm 2001, ngụ tại số A đường N, phường A, quận G được biết anh Nguyễn Bảo T4 mua xe Honda Vision biển số: 98F1-436.37 tại tiệm C2 với giá 15.000.000 đồng. Tiến hành ghi lời khai anh Vũ Khắc T5 (chủ tiệm cầm đồ Hùng D1) sinh năm 1972, ngụ tại số H KP3 đường N, H, Quận A được biết: bà Trần Thị B1 cầm xe máy Honda Vision biển số: 98F1-436.37 tại tiệm C2 với giá 14.000.000 đồng nhưng không trả lãi đúng hạn nên cửa hàng đã thanh lý xe máy trên và bán cho anh Nguyễn Bảo T4.

Ngoài ra Lê Anh T khai nhận đã nhiều lần trộm cắp tài sản là xe gắn máy, cụ thể:

  • - Tháng 7/2023, Lê Anh T lấy trộm xe máy hiệu Wave (không rõ biển số) tại địa chỉ 6 đường số A, phường A (B), Thành phố T và bán cho 01 đối tượng tên D (không rõ lai lịch) ở phường A, quận B với giá 4.000.000 đồng. Qua xác minh tại Công an phường A kết quả: không ghi nhận trường hợp trình báo vụ việc mất trộm xe Wave tại địa chỉ trên.
  • - Tháng 8/2023, Lê Anh T lấy trộm xe máy hiệu Wave (không rõ biển số) tại số A, đường A, phường A, quận H và cũng bán cho D (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng. Qua xác minh tại Công an phường A, Quận H, kết quả: không ghi nhận trường hợp trình báo vụ việc mất trộm xe Wave tại địa chỉ trên.
  • - Tháng 8/2023, Lê Anh T lấy trộm xe máy hiệu Vision (không rõ biển số) tại tiệm Internet số 73 đường N, phường A, quận B và bán cho 01 đối tượng tên N2 (không rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng. Qua xác minh tại Công an phường A1, quận B, kết quả: anh Trương Trung Thiên N3, ngụ tại số A đường N, phường B, B có trình báo về việc bị mất trộm xe gắn máy biển số: 59S1-381.90 tại số G N, phường A, quận B xảy ra vào ngày 20/08/2023. Cơ quan điều tra Công an quận G gửi công văn thông báo đến Cơ quan điều tra Công an quận B để phối hợp điều tra nhưng đến nay chưa nhận kết quả.
  • - Tháng 9/2023, Lê Anh T lấy trộm xe máy hiệu Wave biển số 59U2-117.39 tại tiệm Internet số 281 đường N, phường A, quận B và cầm cố ở tiệm C1 địa chỉ số D đường P, phường A, quận G với giá 5.500.000 đồng. Qua xác minh chiếc xe máy hiệu Wave biển số 59U2-117.39 do chị Nguyễn Thị H1 sinh năm 1983, ngụ tại số A, đường H, phường A, Quận A. Chỗ ở số D, đường X, phường B, quận B đứng tên chủ sở hữu. Chị Nguyễn Thị H1 khai đã bán chiếc xe này và không còn sử dụng nữa và cũng không biết ai đang sử dụng chiếc xe này. Chị Nguyễn Thị Mai H2, chủ tiệm C1 khai đã cầm xe Wave, biển số 59U2-117.39 của Lê Anh T nhưng chị không biết xe trên là tài sản trộm cắp và đã tự nguyện giao nộp xe gắn máy trên cho cơ quan Công an để điều tra làm rõ. Xác minh tại Công an phường A2, quận B, kết quả: có xảy ra mất trộm xe Wave biển số: 59U2-117.39 nhưng bị hại đã thoả thuận bồi thường với chủ tiệm Internet số 281 đường N, phường A, quận B và không thắc mắc khiếu nại nên không trình báo cơ quan Công an.
  • - Vào khoảng từ ngày 01 đến ngày 02 tháng 10/2023 (không nhớ chính xác), Lê Anh T lấy trộm xe máy hiệu Airblade (không rõ biển số) tại Khách sạn H3 tại số D đường N, phường F, quận B và bán cho Trần Ngọc P với giá 5.700.000 đồng. Trần Ngọc P xác nhận đã mua xe Airblade mà Lê Anh T trộm cắp được để bán cho một người không rõ lai lịch ở huyện H với giá 6.500.000 đồng. Qua xác minh tại Công an phường F1, quận B kết quả: Công an phường F1, quận B không tiếp nhận vụ việc trình báo bị mất trộm xe máy như trên trong khoảng thời gian này.

Ngoài ra, Trần Ngọc P khai nhận vào tháng 9/2023 có mua 01 xe Vision (không rõ biển số) với giá 3.000.000 đồng từ một người không rõ lai lịch trên mạng để sử dụng sau đó bán lại cho Nguyễn Thanh B với giá 3.300.000 đồng. Nguyễn Thanh Bình b lại chiếc xe trên với giá 4.300.000 đồng cho một người không rõ lai lịch ở Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ quan điều tra Công an quận G đã ra quyết định truy tìm xe gắn máy hiệu Honda Future biển số: 78M1-137.70 là vật chứng của vụ án nhưng đến vẫn chưa có kết quả. Đồng thời tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu những xe gắn máy đang bị tạm giữ nhưng đến nay chưa có người liên hệ.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định số khung, số máy các xe gồm: xe gắn máy biển số 24K7-3717, số máy: HC09E-5055047, số khung: RLHHC09075Y025130; xe gắn máy biển số 59U2–117.39, số máy: JA39E-0399371, số khung: RLHJA3909HY424232; xe gắn máy biển số: 98F1 – 436.37 có số máy: JK03E-8122123, số khung: RLHJK0351NY022121; xe gắn máy biển số: 63B7 – 347.75 có số máy: JF63E-1530904, số khung: RLHJF630XFZ176835. Kết quả các xe gắn máy trên có số khung, số máy nguyên thủy, không thay đổi (BL:310-313).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã nhập vật chứng 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 59U2–117.39 có số máy: JA39E-0399371, số khung: RLHJA3909HY424232; 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 24K7–3717 có số máy: HC09E-5055047, số khung: RLHHC09075Y025130; 8.000.000 đồng; điện thoại di động hiệu S 9, màu hồng, số IMEI1: 355534100063717; 01 gói ma tuý; 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca Cola (loại 390ml) và 01 chai nhựa nhãn hiệu Number One (loại 330 ml) theo Phiếu nhập kho số: 236/PNK ngày 30/11/2023; số 245/PNK ngày 20/12/2023.

Tại bản cáo trạng số 109/CTr-VKS ngày 22/04/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Trần Ngọc P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 323, và điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng Điểm c khoản 1, Điều 249; khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Ngọc P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội từ 02 năm đến 03 năm tù

Về trách nhiệm dân sự, Đề nghị hội đồng xét xử:

  • - Buộc bị cáo Lê Anh T bồi thường cho bị hại Nguyễn Quốc D số tiền 20.000.000 đồng.
  • -Về xử lý vật chứng:
    • - Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 59U2-117.39 và chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 24K7-3717.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.000.000 đồng, chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 9, màu hồng, số IMEI1: 355534100063717, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ.

Buộc bị cáo Trần Ngọc P nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.700.000 đồng.

Tịch thu và tiêu hủy 01 gói ma tuý được niêm phong bên ngoài có chữ ký Trần Ngọc P, hình dấu Công an phường 6, G là ma tuý đá, có khối lượng 1,8264 gr, loại Methamphetamine; 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca Cola (loại 390ml) và 01 chai nhựa nhãn hiệu Number One (loại 330 ml).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Lê Anh T, Trần Ngọc P và Nguyễn Thanh B đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng bị cáo Lê Anh T đã phạm tội “trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự. bị cáo Trần Ngọc P đã phạm tội “ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Thanh B đã phạm vào tội “ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. tội phạm và hình phạt quy định tại điều 173, 249 và 323 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại, bị cáo Anh T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe gắn máy hiệu Honda Future, qua định giá có giá trị là 19.466.667 đồng, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Bị cáo Trần Ngọc P biết tài sản do bị cáo T đem đi bán là trộm cắp mà có nhưng vẫn tiếp tay tiêu thụ tài sản do bị cáo T trộm cắp, rồi sau đó đem chiếc xe gắn máy hiệu H4 mua của bị cáo T bán lại cho bị cáo Nguyễn Thanh B với giá 5.700.000 đồng, Bị cáo Nguyễn Thanh B biết tài sản do bị cáo P đem bán cho mình là do trộm cắp mà có nhưng vẫn tiêu thụ và đem bán lại cho đối tượng khác với số tiền 8.000.000 đồng, nên cơ quan điều điều tra không thu hồi được vật chứng, mặt khác khi bắt giữ bị cáo Trần Ngọc P bị cáo còn tàng trữ trái phép 1,8264 gram ma túy, loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Trần Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 và bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.

Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị cáo T và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của của các bị cáo B và P rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Trần Ngọc P1 nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.

[4] Trong vụ án này có đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người trộm cắp tài sản của bị hại, rồi sau đó đem về bán lại cho bị cáo P để lấy tiền tiêu xài, Bị cáo P biết rõ tài sản mà bị cáo T đem bán cho mình là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua để bán lại cho bị cáo B để thu lợi bất chính, bị cáo B tiếp tục bán tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có cho đối tượng khác với số tiền 8.000.000 đồng để thu lợi bất chính. Bị cáo Lê Anh T và bị cáo Nguyễn Thanh B nhân thân xấu, bị cáo Trần Ngọc P có nhân thân xấu, và có 01 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nên hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng được qui định tại điểm h khoản 1 điều 52 đối với bị cáo Trần Ngọc P, mặt khác bị cáo Lê Anh T khai đã thực hiện rất nhiều vụ cắp tài sản là xe gắn máy trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng do các vụ trên chưa xác định được bị hại nên chưa có cơ sở xử lý bị cáo T. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo Trần Ngọc P phạm 02 tội, nên Hội đồng xét xử áp dụng điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 điều 173, Điều 249 và điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà hôm nay, bị hại là ông Nguyễn Quốc D yêu cầu bị cáo Lê Anh T bồi thường giá trị chiếc xe Honda Future bị mất trộm là 20.000.000 đồng. Bị cáo Lê Anh T đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên, Hội đồng xét xử xét thấy thỏa thuận trên không trái pháp luật nghĩ nên ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 59U2–117.39 có số máy: JA39E-0399371, số khung: RLHJA3909HY424232, chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 24K7–3717 có số máy: HC09E-5055047, số khung: RLHHC09075Y025130 do chưa xác định được chủ sở hữu, Nên Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục thi hành án quận G tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến nhận thì thu sung công quỹ nhà nước
  • - Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 9, màu hồng, số IMEI1: 355534100063717 và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ, các bị cáo dùng để liên lạc bán xe trộm cắp liên quan đến hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với số tiền 8.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh B, là do bán tài sản phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước
  • - Đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Ngọc P từ việc bán xe do trộm cắp mà có là 5.700.000 đồng, xét đây là tiền thu lợi bất chính nên buộc bị cáo nộp lại để sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với 01 gói ma tuý được niêm phong bên ngoài có chữ ký Trần Ngọc P, hình dấu Công an phường 6, G là ma tuý đá, có khối lượng 1,8264 gram, loại Methamphetamine nhà nước cấm lưu hành và 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca Cola (loại 390ml), 01 chai nhựa nhãn hiệu Number One (loại 330 ml) không còn giá trị xử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo Trần Ngọc P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Lê Anh T 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/10/2023.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh B 01(một) năm 03(ba) tháng tù.
  • Thời hạn tù được tính kể từ ngày 19/03/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Trần Ngọc P 01 năm 03 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 năm 03 tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Áp dụng điều 55 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/10/2023.

Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Giao Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 59U2–117.39 có số máy: JA39E-0399371, số khung: RLHJA3909HY424232, chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 24K7–3717 có số máy: HC09E-5055047, số khung: RLHHC09075Y025130, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày tuyên án, nếu không có ai đến nhận thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.000.000 đồng, chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 9, màu hồng, số IMEI1: 355534100063717, và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ.
  • - Tịch thu và tiêu hủy 01 gói ma tuý được niêm phong bên ngoài có chữ ký Trần Ngọc P, hình dấu Công an phường 6, G là ma tuý đá, có khối lượng 1,8264 gram, loại Methamphetamine; 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca Cola (loại 390ml) và 01 chai nhựa nhãn hiệu Number One (loại 330 ml). (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 236/PNK ngày 30/11/2023 và số 245/PNK ngày 20/12/2023 và 263A/PNK ngày 27/03/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an quận G).
  • - Buộc bị cáo Trần Ngọc P nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.700.000( năm triệu bảy trăm ngàn) đồng để sung quỹ nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Lê Anh T bồi thường cho ông Nguyễn Quốc D số tiền 20.000.000(hai mươi) triệu đồng.

Áp dụng điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo bị cáo Lê Anh T không bồi thường và bị cáo Trần Ngọc P không nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Bị cáo Lê Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000(một triệu) đồng.

Các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • -TAND.TPHCM;
  • -VKSND.TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỒI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và Nguyễn Thanh B phạm tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và Trần Ngọc P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger