Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 20 - 8 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Kim Thành và ông Đào Xuân Nhi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Khúc Thiện C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại: Hải Dương; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Khúc Văn B, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1961; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh B1, sinh năm 2001; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty Cổ phần D; Địa chỉ: 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lù Phát H1, sinh năm 1992; Chức vụ: Quản lý khu vực, theo giấy uỷ quyền ngày 20/8/2024 (vắng mặt).

- Người làm chứng: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/01/2022, Khúc Thiện C ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần D, địa chỉ 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ chí Minh. Địa điểm làm việc Công ty cổ phần D – Chi nhánh B2 (viết tắt CTCP DV GHN), địa chỉ kho: Số H, quốc lộ A phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Quá trình làm việc, C được CTCP DV GHN cấp mã nhân viên “3000446” và tài khoản giao hàng trên ứng dụng “Tài xế M-PDS” của công ty (app này tải từ google, được đăng ký bằng số điện thoại của nhân viên giao hàng để bảo mật), ID đăng nhập là mã nhân viên. Cương được công ty phổ biến quy định về việc giao, nhận hàng cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng (được gọi là tiền COD) để nộp lại cho công ty, cụ thể:

Buổi sáng nhân viên giao hàng đến kho của công ty để nhận hàng đi giao cho khách hàng. Khi đến kho, nhân viên giao hàng được nhân viên kho mở bao hàng đổ hàng ra và nhân viên kho quét mã code đơn hàng nhập vào hệ thống (app) quản lý hàng hóa của công ty. Sau đó, nhân viên giao hàng phân chia hàng theo từng tuyến giao hàng cho từng nhân viên bưu tá theo từng sọt hàng. Nhân viên kho tiếp tục quét mã code của từng đơn hàng mà nhân viên giao hàng đã nhận lên hệ thống quản lý giao hàng của công ty để giao cho nhân viên giao hàng (giao đồng kiểm ký kết giữ các bên). Nhân viên giao hàng tiếp tục đăng nhập vào tài khoản giao hàng của mình trên app của công ty để đối chiếu tổng các đơn hàng đã nhận với thực tế các đơn hàng, nếu đúng số lượng thì nhân viên giao hàng tiến hành đi giao cho khách hàng.

Sau đó, nhân viên giao hàng gọi điện thoại thông báo cho các khách hàng để giao hàng và di chuyển bằng phương tiên giao thông cá nhân. Khi gặp được khách hàng, nhân viên giao hàng kiểm tra thông tin của người nhận hàng, nếu trùng khớp thông tin thì tiến hành giao hàng và thu tiền theo giá ghi trên đơn hàng (đối với đơn hàng yêu cầu thu hộ), cập nhật trạng thái “giao thành công” lên app và tiếp tục đi giao các đơn hàng khác. Đối với các trường hợp nhân viên giao hàng gọi điện thoại 03 (ba) lần mà không giao được hàng thì cập nhật trạng thái “giao thất bại” lên app, cuối ngày trả lại hàng cho nhân viên kho để hôm sau đi giao tiếp, trong 03 (ba) ca mà không giao được thì trả hàng cho nhân viên kho. Số tiền thu được của các đơn hàng đã giao thành công, cuối ngày nhân viên giao hàng phải nộp về hoặc chuyển khoản cho nhân viên xử lý (nhân viên kho) của công ty. Các trường hợp phát sinh lỗi do bất khả kháng thì nhân viên giao hàng phải báo về cho nhân viên kho biết. Nếu trong tuyến của nhân viên giao hàng có nhân viên nghỉ thì nhân viên tuyến này đăng ký nhận hàng để giao thêm trên tuyến của mình.

Ngày 17/10/2022, Khúc Thiện C đến nhận hàng tại kho của công ty để đi giao cho khách hàng với tổng số lượng đơn hàng khoảng 100 đơn hàng có thu tiền của người nhận (thu tiền COD) từ anh Nguyễn Quốc T là nhân viên kho. Sau đó C đã giao hàng và chiếm đoạt số tiền thu COD của 27 đơn hàng, trong đó có 14 đơn hàng C thao tác trên app “giao thành công”, 13 đơn hàng còn lại C đã giao hàng cho người nhận nhưng không cập nhật trạng thái “giao thành công”, và chiếm đoạt số tiền 11.287.050 đồng (Mười một triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn không trăm năm mươi đồng). Đối với số hàng còn lại chưa giao được, C đem trả về kho của công ty và nghỉ việc. Đến 21 giờ cùng ngày, không thấy C quay lại để nộp tiền thu COD và trả hàng chưa giao nên anh Nguyễn Quốc T báo cho TBC và AM (Trưởng bưu cục và Quản lý T1 bưu cục) để lập biên bản, báo về công ty số tiền bị Khúc Thiện C chiếm đoạt trong chuyến giao hàng ngày 17/10/2022.

Đến ngày 10/11/2023, Công ty Cổ phần D có đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tố giác Khúc Thiện C về hành vi tham ô số tiền thu COD của 27 đơn hàng ngày 17/10/2022 trị giá 11.287.050 đồng (Mười một triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn không trăm năm mươi đồng) (bút lục 26->75).

Quá trình điều tra xác định đối với 27 đơn hàng mà Khúc Thiện C đã nhận để đi giao và thu tiền COD, trong đó có 26 người mua xác nhận đã nhận hàng và trả tiền COD chuyển với tổng số tiền là 10.967.050đồng (mười triệu chín trăm sáu mươi bảy ngàn không trăm năm mươi đồng); 01 đơn hàng khách hàng không đặt, không nhận được đơn hàng với tổng số tiền là 320.000đồng (ba trăm hai mươi ngàn đồng).

***

Tại bản Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Khúc Thiện C về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Khúc Thiện C phạm tội “Tham ô tài sản”.

Về hình phạt đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Khúc T2 Cương mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Bị cáo Khúc Thiện C tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tranh tụng công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/10/2022, Khúc Thiện C là nhân viên hợp đồng của Công ty cổ phần D - Chi nhánh B2 đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn là giao hàng cho khách hàng và thu tiền COD và nộp tiền về công ty. Bị cáo đã thực hiện giao 27 đơn hàng và thu tiền nhưng không nộp tiền về công ty mà chiếm đoạt số tiền 11.287.050 đồng (Mười một triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn không trăm năm mươi đồng) của Công ty cổ phần D - Chi nhánh B2 tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản mà bị cáo có trách nhiệm quản lý là hành vi phạm tội nhưng vì động cơ vụ lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Khúc Thiện C trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, người bị hại đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Cha, mẹ bị cáo là người tham gia kháng chiến được tặng thưởng kỷ niệm chương; Bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang nuôi hai con nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
  3. Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, hiện là lao động chính và đang nuôi hai con nhỏ. Vì vậy, để thể hiện tính nhân đạo của nhà nước nên cần cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.
  4. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét.
  6. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Khúc Thiện C phạm tội “Tham ô tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Khúc Thiện C 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn ) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/8/2024).

Giao bị cáo Khúc Thiện C cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Khúc Thiện C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc:

Bị cáo Khúc Thiện C phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS thành phố Đồng Xoài;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - CA thành phố Đồng Xoài;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger