Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 19 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đức

Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày 03/12/1977 tại Thái Bình;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;

Chỗ ở hiện tại: Ngõ B, đường L, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình;

nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1952 (ông T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba) và bà: Tống Thị M, sinh năm 1954;

Chồng: Phạm Thế H, sinh năm 1974 (đã ly hôn); con: 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 72/2018/HS-ST ngày 11/9/2018 cuả Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 05/9/2019, chấp hành xong án phí ngày 30/11/2018.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/4/2024 đến ngày 28/4/2024 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

+ Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1969

Trú tại: thôn L, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình

2

+ Bà Phạm Thị Thanh H1, sinh năm 1974

Trú tại: tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình(Ông Q, bà H1 đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 22/4/2024, Nguyễn Thị T đi bộ từ chỗ ở của T đến khu vực cầu K, tổ A, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì gặp và mua được của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 04 gói ma túy đá, loại Methamphetamine với giá 900.000 đồng, sau đó T cất số ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải của T đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi T đi đến khu vực ngõ A, đường B, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Trần Xuân Q và bà Phạm Thị Thanh H1, T tự giác lấy từ trong túi quần bên phải của T đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 04 gói giấy bạc màu trắng, bên trong 4 gói đều có túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh, cả 4 gói đều có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, T khai nhận là ma túy đá của T vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Sau đó tổ công tác yêu cầu T và mời người chứng kiến về trụ sở Công an phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 553/KL-KTHS, ngày 26/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Thị T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9654 gam (Không phẩy chín nghìn sáu trăm năm mươi tư gam)". Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 122/CT-VKSTPTB ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249;

3

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phat cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nôi dung Cao trang và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình lập ngày 22/4/2024 tại trụ sở Công an phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Bút lục 01 - 03) cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ ngày 22/4/2024, tại khu vực ngõ A, đường B, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị T có hành vi tàng trữ trái phép trên người 04 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9654 gam với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

4

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy : Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hôi, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tai đia phương. Mặc dù đông cơ pham tôi xuất phát từ việc nghịên chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, đã từng bị kết án về tội phạm ma túy, song không chịu tu

5

dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn ngang nhiên thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc lọai tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã từng 01 lần bị kết án về tội phạm ma túy nhưng đã được xóa án tích. Quá trình điều tra, truy tố và tai phiên tòa bị cáo khai báo trung thực toàn bộ hành vi pham tôi, do đó bị cao được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người pham tôi thanh khẩn khai bao” theo quy đinh tai điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng nên bị cáo còn được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đa phân tích trên thấy cần thiết phải ap dung hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tao, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy song không kiên quyết từ bỏ con đường phạm tội, do đó cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực cầu K, tổ A phường L, thành phố T nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9654 gam thu giữ của Nguyễn Thị T, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,8939 gam và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 553/KL- KTHS của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh T. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

6

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 35, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 22/04/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị T: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,8939 gam (không phẩy tám nghìn chín trăm ba mươi chín gam) ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 553/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T

    (Vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 25/6/2024).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2024)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phượng

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp;
  • - VKSND thành phố Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT CA thành phố Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA thành phố Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
  • - UBND xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger