|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2023/HS-PT. Ngày: 17/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vinh Khương.
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà-Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thanh P-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (điểm cầu trung tâm) và tại Trại tạm giam-Công an tỉnh S (điểm cầu thành phần) xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 111/2023/TLPT-HS, ngày 02/10/2023 đối với các bị cáo Trần Hậu G, Ngô Phát T do có kháng cáo của các bị cáo Trần Hậu G, Ngô Phát T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST, ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Hậu G (tên gọi khác: D); Sinh ngày 27/10/2004; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Khóm H, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Chung H và bà Nguyễn Tiết L; Anh chị em ruột: Có 02 người, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2007; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/3/2023 cho đến nay (bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần).
2. Ngô Phát T; Sinh ngày 14/12/2000; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Khóm C, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Ngô Bích T1; Anh chị em ruột: có 02 người, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2008; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án số 54/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, Ngô Phát T bị xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo T chấp hành xong án phạt tù vào ngày 28/8/2020, nhưng bị cáo chưa đóng tiền phạt bổ sung 5.000.000đồng nên chưa được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/3/2023 cho đến nay (bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần).
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Phát T: Ông Võ Tuấn H1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; Địa chỉ: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt tại điểm cầu trung tâm).
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại ông Võ Văn H2; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyết Tuyết L2; Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Văn M, bà Hồ Diễm M1, bà Nguyễn Thị Mỹ T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 12/12/2022 Trần Hậu G điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở bạn gái tên Hồ Diễm M1 đến chơi nhà anh N (không rõ họ tên) ở khóm H, phường K, thị xã V, rồi G nhậu (uống rượu) với anh N, Ngô Phát T và Nguyễn Tấn A. Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, G điều khiển xe mô tô chở M1 đi về nhà, khi đến đoạn đường đai thuộc khóm H, phường K thì G thấy Võ Văn H2 bị ngã xe cạnh lề đường nên G dừng xe lại hỏi H2 có bị gì không nhưng H2 không đồng ý, H2 cho rằng G chạy xe pha đèn vào mặt làm H2 bị té ngã xe; lúc này G và H2 xảy ra cự cãi với nhau thì được M1 và một người đàn ông không rõ tên ở gần đó ngăn cản, rồi G lên xe mô tô điều khiển chở M1 đi được một đoạn, do còn tức giận bị H2 chửi nên G gọi điện thoại nói với Ngô Phát T là ra gặp G có chuyện rồi (tức là có đánh nhau), nghe vậy T liền lấy xe mô tô không rõ biển số điều khiển chở theo Nguyễn Tấn A đi ra gặp G, G mới nói với T và Tấn A là ông đó (H2) ở ngoài kia và rủ T và Tấn A đi đánh H2 thì T và Tấn A đồng ý. Sau đó, G điều khiển xe chở M1 chạy đi trước, còn T điều khiển xe chở Tấn A chạy theo sau tìm gặp H2 đang đứng ở đường đal gần nhà của H2 thuộc khóm H, phường K nên cả nhóm của G dừng xe lại, G mới lấy 02 (hai) cây dao bằng kim loại (mỗi cây dao dài khoảng 25cm, cán dao bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn) từ trong hộc xe của G ra đưa cho Tấn A cầm 01 (một) cây dao, G cầm 01 (một) cây dao, T lượm 01 (một) cục bê tông tại đường đal cầm trên tay đuổi theo H2, H2 bỏ chạy về đến sân nhà lấy được miếng ván gỗ dài 1,15 mét đánh trúng vào tay của Tấn A gây thương tích nhẹ, G cầm cây dao xông vào đâm trúng 01 (một) nhát vào vùng căng tay phải của H2 gây thương tích, H2 mới bỏ chạy ra hướng đường đal thì T dùng cục bê tông ném (chọi) về phía H2 nhưng không trúng nên T tiếp tục đuổi theo dùng tay đánh vào người H2, H2 bỏ chạy bị vấp ngã xuống đường đal thì Tấn A cầm dao nhào vô đâm liên tiếp 07 (bảy) nhát dao trúng vào người của H2 làm H2 bị thương tích ở vùng trán và mi mắt phải, vùng mặt trái, vùng lưng trái, vùng hông phải, vùng cánh tay trái, vùng đùi phải và ngất xỉu tại chỗ, rồi cả nhóm của G lên xe tẩu thoát khỏi hiện trường, còn H2 được gia đình đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh S, đến ngày 23/12/2022 thì H2 xuất viện. Sau đó, vụ việc được trình báo Công an phường K.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 44/TgT-PY ngày 27/01/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh S, kết luận thương tích của Võ Văn H2 có tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 36%, thương tích có đặc điểm do vật sắc - nhọn gây nên
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Hậu G.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Hậu G phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Trần Hậu G 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2023.
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Tấn A.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2023.
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Ngô Phát T.
- Tuyên bố: Bị cáo Ngô Phát T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Ngô Phát T 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2023
- - Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của các bị cáo và bị hại và người tham gia tố tụng khác theo quy định.
* Ngày 21/8/2023, bị cáo Trần Hậu G kháng cáo xin giảm hình phạt.
* Ngày 28/8/2023, bị cáo Ngô Phát T kháng cáo xin giảm hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Trần Hậu G, Ngô Phát T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Phát T trình bày: Về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đúng. Tuy nhiên, về mức hình phạt cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 năm 06 tháng tù là quá nghiêm khắc vì trong vụ án này bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức, bị cáo không gây thương tích cho bị hại, gia đình bị cáo có công. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hậu G lập và được Nhà tạm giữ Công an thị xã V xác nhận vào ngày 21/8/2023 và đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Phát T lập và được Nhà tạm giữ công an thị xã V xác nhận vào ngày 28/8/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Trần Hậu G, Ngô Phát T, về việc xin giảm án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Hậu G và Ngô Phát T như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Hậu G và Ngô Phát T đều khai nhận vào ngày 12/12/2022, bị cáo Trần Hậu G và bị hại Võ Văn H2 có xảy ra cự cãi với nhau thì được ngăn cản, rồi G lên xe mô tô đi được một đoạn, do còn tức giận bị H2 chửi nên G gọi điện thoại nói với Ngô Phát T là ra gặp G có chuyện rồi (tức là có đánh nhau), nghe vậy T liền lấy xe mô tô không rõ biển số điều khiển chở theo Nguyễn Tấn A đi ra gặp G, G mới nói với T và Tấn A là ông đó (H2) ở ngoài kia và rủ T và Tấn A đi đánh H2 thì T và Tấn A đồng ý, sau đó bị cáo Trần Hậu G và Nguyễn Tấn A mỗi người cầm một cây dao đâm nhiều nhát vào cơ thể bị hại Võ Văn H2 gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%, bị cáo Ngô Phát T tiếp nhận ý chí của bị cáo Trần Hậu G tham gia giúp sức bằng cách dùng cục bêtông ném bị hại Võ Văn H2 và dùng tay đánh bị hại H2 gây thương tích. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Trần Hậu G, Ngô Phát T phạm tội “Cố ý gây thương túch” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Hậu G về việc xin giảm án: Xét khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Trần Hậu G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng; Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo G mức án 05 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Trong giai đoạn phúc thẩm gia đình bị cáo đã nộp số tiền khắc phục cho bị hại là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003471 ngày 11/9/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, đây là gia đình bị cáo khắc phục thêm cho bị hại, nhưng khắc phục không đáng kế và mức hình phạt đối với bị cáo G là tương xứng. Do đó, kháng cáo của bị cáo G về việc xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Phát T về việc xin giảm án: Xét khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo T là người có nhân thân xấu, có 01 lần bị Tòa án kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, từ đó áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo T mức án 05 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng có cung tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có công, tuy nhiên bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện gia đình bị cáo là người có công. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, vê việc xin giảm hình phạt.
[5] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hậu G và Ngô Phát T, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm án của bị cáo Ngô Phát T là chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Hậu G và Ngô Phát T về việc xin giảm án. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2023/HS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1 Điều 17, khoản 1 Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Hậu G.
Xử phạt bị cáo Trần Hậu G 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 10/3/2023
-
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Ngô Phát T.
Xử phạt bị cáo Ngô Phát T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2023
-
Về án phí hình sự phúc thẩm:
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo Trần Hậu G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm
- - Bị cáo Ngô Phát T được miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM đã ký Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 115/2023/HS-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 115/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hậu G + Ngô Phát T
