|
TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Minh Quý
2. Ông Xè A Gia
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng Thị C; giới tính: Nữ; sinh năm 1990; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Sùng A Q, đã chết và con bà Vàng Thị L, đã chết; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chồng: Vừ A H, sinh năm 1994; Con có 04 con: con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện tạm cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.
* Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Sùng A T, sinh năm 1999; địa chỉ: bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Vừ A P, sinh năm 1986; địa chỉ: bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
* Người làm chứng: Anh Giàng A T1, sinh năm 2002; địa chỉ: bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 26/4/2024, Sùng Thị C đi chợ D thuộc xã D bán củ hoàn tinh được 50.000 đồng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, trên đường đi bộ về Chư gặp Giàng A T1 và Vừ A P (bố vợ T1) là hai người cùng bản với C đang đi xe mô tô ngược chiều. Trước đó, P nhờ T1 điều khiểu xe mô tô biển kiểm soát 25B1-683.07 là xe của P chở đi mua thuốc chữa đau răng tại chợ D1 Thấy vậy, C xin đi cùng và được T1, P đồng ý. Tại chợ D, P hỏi mua thuốc chữa đau răng nhưng không mua được, C bảo P lên bản U Ní C1, xã D mua thuốc. Do đều là người sử dụng chất ma túy nên P hiểu là đi mua Heroine sử dụng chữa đau răng. P bảo T1 điều khiển xe mô tô chở P, C lên bản U, xã D. Khi đến nơi, T1 đứng đợi, còn C và P đi bộ vào trong bản. Đi một lúc, C và P gặp một người đàn ông không rõ lai lịch nói có Heroine bán, P mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine giá 50.000 đồng rồi đi ra cạnh đường sử dụng hết bằng hình thức hít. Phàng mua xong, C cũng đưa cho người đàn ông đó 50.000 đồng và bảo mua 40.000 đồng Heroine để sử dụng, người đàn ông lấy 01 gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu trắng) đưa cho C và trả lại 10.000 đồng. Nhận gói H1, C lấy mảnh giấy màu trắng gói bên ngoài rồi cất vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc. Quá trình C trao đổi mua Heroine, P đang sử dụng ma túy nên không biết. Sau đó, C và P quay lại chỗ T1 đang đứng đợi để đi về. Khi gặp P, T1 và trên đường đi về, C không nói cho P, T1 biết việc mình có cất giấu gói Heroine trên người. Đến hồi 19 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, Giàng A T1 điều khiển xe mô tô chở Sùng Thị C và Vừ A P đi đến khu vực bản S, xã D, huyện P thì bị Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang đối với Sùng Thị C về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vật chứng thu giữ của C là 01 gói Heroine, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; tạm giữ của P 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-683.07 kèm đăng ký xe mô tô.
Tại bản Kết luận giám định số 20/KLGĐ ngày 27/04/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: gói chất bột màu trắng thu giữ của Sùng Thị C có khối lượng là: 0,14 gam. Bản Kết luận giám định số 488 ngày 03/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 587/KLGĐ ngày 24/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 10.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 69/CT-VKSPT ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Sùng Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 66/KLĐT ngày 07/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 19 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, tại bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu bị cáo Sùng Thị C đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,14 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện P bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy đã lâu nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, H1).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và là lao động chính duy nhất của gia đình. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo nghiện chất ma túy đã lâu. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,14 gam Heroine thu giữ của Sùng Thị C, Cơ quan điều tra đã trích 0,06 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,08 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô nhãn hiệu HONDA BLADE, biển kiểm soát 25B1-683.07, xe cũ đã qua sử dụng, 01 chìa khóa xe mô tô, 01đăng ký xe là xe của Vừ A P. Xét thấy, việc anh P cùng T1 chở bị cáo C nhưng không biết việc bị cáo đi mua ma túy nên cần trả lại cho anh Vừ A P theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Số tiền 10.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Sùng Thị C khai mua của một người không rõ lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Giàng A T1 là người điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-683.07 chở Sùng Thị C, Vừ A P đi mua Heroine tại bản U, xã D. Quá trình điều tra xác định, T1 chỉ biết P đi mua thuốc chữa đau răng, không biết việc C, P mua Heroine để sử dụng. Do vậy, không có căn cứ xử lý đối với Giàng A T1.
Đối với Vừ A P là người đi mua Heroine cùng Sùng Chị Chư. Quá trình điều tra, C khai C và P không bàn bạc, thống nhất về việc mua Heroine để sử dụng. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa C và P, P cũng không thừa nhận việc trao đổi bàn bạc gì trước đó với C. Khi C mua Heroine P1 cũng không biết C mua bao nhiêu tiền, được bao nhiêu và cất giấu ở đâu. Do vậy, không có căn cứ kết luận Vừ A P đồng phạm với Sùng Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vừ A P, Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P.
[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng Thị C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt vào trại chấp hành hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 phong bì niêm phong đã mở.
- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE, biển kiểm soát 25B1-683.07, xe cũ đã qua sử dụng, 01 chìa khóa xe mô tô, 01đăng ký xe cho anh Vừ A P, sinh năm 1986, địa chỉ: bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu.
- Trả lại cho bị cáo Sùng Thị C số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 07/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ)
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sùng Thị C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
