Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 17-9-2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Ngọc Côn.

Ông Tạ Văn Doanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số : 117/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Văn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 01/12; Dân tộc: Sán dìu; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn B (đã chết) và bà Leo Thị S (đã chết); Có vợ là Trần Thị H và 02 con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Dương Quang P, sinh năm 1987 (có mặt).
  2. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Trần Thị H, sinh năm 1990 (có mặt).
  4. Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1984 (có mặt).
  5. Đều cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  6. Ông Hoàng Xuân L1, sinh năm 1976 (vắng mặt).
  7. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 45 phút, ngày 10/6/2024, Trương Văn N đi bộ từ nhà sang nhà ông Hoàng Văn B1 ở cùng thôn, mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đến gần nhà ông B1, N đứng ngoài tường vành lao phía sau nhà quan sát thấy chị Nguyễn Thu T (là con dâu ông B1) về chơi, đang tắm cho các con của chị T ở ngoài sân giếng. Nhật trèo qua tường vành lao phía đầu hồi rồi đi vào trong nhà ông B1 để tìm tài sản để trộm cắp. Khi vào trong nhà, N quan sát thấy có một chiếc túi xách màu đen của chị T để ở trên chiếc ghế trong gian phòng khách giữa nhà. N đi đến chỗ túi chiếc túi xách lục tìm thấy bên trong túi có tiền, N lấy hết số tiền trong túi của chị T đút vào túi quần đang mặc. Sau đó N trèo qua tường vành lao ra ngoài rồi đi theo lối cũ về nhà. Khi về đến nhà, N bỏ số tiền vừa trộm cắp ra đếm được tổng số 2.800.000 đồng. N lấy số tiền 2.000.000 đồng cho vào trong 01 chiếc túi nilon rồi vùi vào trong đống cát ở ngoài đầu hồi nhà ở của gia đình. Số tiền còn lại N sử dụng chỉ tiêu cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất tiền, chị T đã nói cho anh Hoàng Văn L (là anh trai của chồng chị T) biết. Nghi ngờ N là người trộm cắp số tiền trên của chị T nên buổi trưa ngày 11/6/2024, anh L đã đến nhà N để hỏi xem N có trộm cắp tiền của chị T hay không. Khi anh L đến nhà N thì gặp N và chị Trần Thị H (là vợ của N) ở nhà, anh L hỏi N có được lấy tiền của chị T không thì N thừa nhận đã được trộm cắp số tiền 2.800.000 đồng của chị T, đồng thời N ra đống cát ở đầu hồi nhà bới lấy túi nilon đựng số tiền 2.000.000 đồng trộm cắp của chị T cất giấu trước đó trả lại cho anh L. Ngày 13/6/2024, chị Nguyễn Thu T có đơn trình báo gửi Công an xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đề nghị giải quyết. Ngày 13/6/2024, Trương Văn N đến Công an xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cùng ngày 13/6/2024 Công an xã Q chuyển tài liệu và bàn giao Trương Văn N cho Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Văn N. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Ngày 20/6/2024 và ngày 16/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác định hiện trường nơi Trương Văn N trộm cắp tài sản và nơi N cất giấu tài sản trộm cắp của chị T nêu trên.

Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thu T khai bản thân chị bị trộm cắp số tiền khoảng trên 5.000.000 đồng, tuy nhiên chị cũng không nhớ chính xác là bao nhiêu tiền. Bản thân N chỉ thừa nhận được trộm cắp của chị T số tiền 2.800.000 đồng. Tiến hành cho chị T và N đối chất nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của chị T thì không có căn cứ nào khác xác định N trộm cắp của chị T tổng số tiền hơn 5.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, màu trắng bạc, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên là của chị Trần Thị H (là vợ của N), không liên quan đến hành vi phạm tội của N. Ngày 11/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị H.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện trả lại chị Nguyễn Thu T số tiền 2.000.000 đồng thông qua anh L. Quá trình điều tra anh Dương Văn P1 (là người thân của bị cáo N) được chị T cho biết bị N trộm cắp số tiền khoảng 5.000.000 đồng, nên anh P1 đã trả cho chị T số tiền trên hộ N. Chị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trương Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị hại trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trương Văn N, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trương Văn N từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2024). Ngoài ra còn đề nghị về án phí.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì thêm đối với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 10/6/2024, tại nhà ở của gia đình ông Hoàng Văn B1, sinh năm 1954 ở thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trương Văn N đã có hành vi trộm cắp số tiền 2.800.000 đồng của chị Nguyễn Thu T. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173-Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
  4. [4] Về tính chất của vụ án: Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ, đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
  5. [5] Về nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  6. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; sau khi phạm tội ra đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51-Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.
  8. [8] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
  9. [9] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản đáng giá nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
  10. [10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thu T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Anh Dương Văn P1 không yêu cầu bị cáo trả lại anh số tiền mà anh đã bồi thường cho chị T thay bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  11. [11] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, màu trắng bạc, số seri: R9WW90PRD6D, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên là của chị Trần Thị H, không liên quan đến hành vi phạm tội của N. Ngày 11/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng trả lại cho chị H là có căn cứ.
  12. [12] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
  13. [13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. 1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Trương Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 13/6/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. 2. Về án phí: Bị cáo Trương Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. 3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ ngày 10/6/2024, tại nhà ở của gia đình ông Hoàng Văn B1, sinh năm 1954 ở thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trương Văn N đã có hành vi trộm cắp số tiền 2.800.000 đồng của chị Nguyễn Thu T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger