|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày: 17-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Nghiệp;
- Bà Phạm Thị Phước.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/HSST ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
PHẠM VINH Q - sinh năm 1952 tại Nam Định; nơi đăng ký thường trú: 329/12 Tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: như trên; nghề nghiệp: hướng dẫn viên du lịch; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn S, đã chết; con bà: Vương Thị L, sinh năm: 1930; vợ: Đặng Thị Thu H, sinh năm 1963; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không;
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến ngày 22/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1983;
Địa chỉ: 7 V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 15/3/2024, tại trước cột số B7 Ga quốc nội, S T, Phường B, quận T, Phạm Vinh Q nhìn thấy 01 túi xách màu đen của bà Phạm Thi D1 để trên xe đẩy hàng không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Q đi đến đẩy xe vào phía sau cột B6 cách đó vài mét để tránh bị phát hiện, rồi cầm túi xách đến trạm xe buýt bắt xe về khách sạn E tại địa chỉ số F B, phường B, Quận A. Tại đây, Q mở chiếc túi xách màu đen ra kiểm tra thì thấy bên trong có 02 căn cước công dân, 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 cây son môi và 01 chiếc ví màu đỏ bên trong có 32 tờ tiền giấy mệnh giá 500.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, Q mang túi xách cùng với các tài sản bên trong về chỗ ở tại địa chỉ số C Tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A cất giấu. Sau khi ra khỏi Sân bay T, bà D1 phát hiện bị mất trộm túi xách màu đen nên quay lại Đồn Công an Cảng hàng không quốc tế T trình báo.
Đến khoảng 13 giờ ngày 16/3/2024, Đồn Công an Cảng hàng không quốc tế T mời Q đến làm việc thì Q đã mang 01 túi xách màu đen bên trong có 02 căn cước công dân, 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 cây son môi và 01 chiếc ví màu đỏ đến giao nộp nhưng không giao nộp số tiền 16.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra Công an quận T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Vinh Q tại địa chỉ số C Tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A thu giữ số tiền 16.000.000 đồng gồm 32 tờ tiền giấy mệnh giá 500.000 đồng trong tủ gỗ.
Kết luận định giá số 36/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, kết luận 01 túi xách màu đen trị giá 400.000 đồng, 01 ví màu đỏ trị giá 200.000 đồng, 01 cây son môi đã qua sử dụng không có cơ sở định giá. Tổng giá trị tài sản là 600.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Phạm Vinh Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết quả xác định địa điểm, kết quả khám xét chỗ ở, dữ liệu camera thu giữ.
Vật chứng thu giữ:
- - 32 (ba mươi hai) tờ tiền giấy mệnh giá 500.000 đồng;
- - 01 (một) túi xách màu đen, dây đeo màu vàng, chất liệu bằng da, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) ví màu đỏ, chất liệu bằng da, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) cây son màu hồng, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Thị D;
- - 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Bùi Quý D2 (là con trai của bà D);
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 15A-161.15;
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại các tài sản nêu trên cho bà Phạm Thị D là chủ sở hữu.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 11 màu đỏ, đã qua sử dụng. Qua kiểm tra không phát hiện dữ liệu liên quan đến việc trộm cắp tài sản nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) USB hiệu Kingston 64 GB màu đen, lưu trữ hình ảnh Phạm Vinh Q trộm cắp tàn sản tại cột số B7 Ga quốc nội Sân bay T vào ngày 15/3/2024, đưa vào hồ sơ vụ án.
- 01 (một) áo sơ mi tay ngắn màu trắng, không nhãn hiệu và 01 (một) quần dài vải màu đen, không nhãn hiệu Phạm Vinh Q mặc khi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tạm nhập kho vật chứng chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: bà Phạm Thị D đã nhận lại tài sản bị trộm cắp nên không yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKS-TB ngày 04 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Phạm Vinh Q về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Vinh Q, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Tại trước cột số B7 Ga quốc nội, S T, Phường B, quận T, Phạm Vinh Q đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 túi xách màu đen của chị Phạm Thị D bên trong có 02 căn cước công dân, 01 giấy đăng ký xe ô tô, 01 cây son môi và 01 chiếc ví màu đỏ bên trong có 32 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Q chiếm đoạt của chị D là 16.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thời điểm phạm tội bị cáo 76 tuổi là người cao tuổi; tại quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, o, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân của bị cáo tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không có vi phạm gì, bị cáo cũng được bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời, cũng để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước, nghĩ không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo hưởng án treo có thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, để bị cáo tự cải tạo. Việc bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phạm Thị D đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) áo sơ mi tay ngắn màu trắng, không nhãn hiệu và 01 (một) quần dài vải màu đen, không nhãn hiệu là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy đây là những tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) USB hiệu Kingston 64 GB màu đen, lưu trữ hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/3/2024, đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Xét đây là vật chứng của vụ án cần tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, do bị cáo là người cao tuổi lại có đơn xin miễn nộp án phí nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Vinh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo: Phạm Vinh Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Vinh Q cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo sơ mi tay ngắn màu trắng, không nhãn hiệu và 01 (một) quần dài vải màu đen, không nhãn hiệu.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 138/BB/2024 ngày 09/7/2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
[3] Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
