Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-7-2024.

V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly

hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Ngô Văn Khon.
  2. Ông Lê Văn Dài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nhân – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 01 tháng 7 và ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 88/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Y, sinh năm: 1980 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt);- Bị đơn: Anh Ngô Thanh N, sinh năm: 1982 (vắng mặt không có lý do).

Cùng nơi cư trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

- Nguyên đơn chị Bùi Thị Ý trình bày: Về hôn nhân chị Y và anh N tiến đến hôn nhân do mai mối, tổ chức đám cưới cách nay 18 năm, đăng ký kết hôn ngày 08/3/2021 tại UBND xã A. Nguyên nhân mâu thuẩn do anh N ngoại tình, thời gian ngoại tình khoảng hơn 01 năm nay và đã ly thân từ khi biết anh N ngoại tình. Ngoài ra, anh N ăn nhậu, không quan tâm chăm sóc gia đình. Về con chung có 02 người con chung tên Ngô Bình A, sinh ngày 06/4/2008 đã nghỉ học và đi làm thuê và cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021 hiện nay do chị Y đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay chị Bùi Thị Y yêu cầu ly hôn với anh Ngô Thanh N, con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Ngô Bình A, sinh ngày 06/4/2008 và cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021 đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho cháu A, yêu cầu anh N cấp dưỡng cho cháu Đ với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000đ/tháng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày Tòa án nhận đơn khởi kiện là ngày 25/4/2024. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Ngô Thanh N trình bày: Thống nhất lời trình bày của chị Y về thời gian chung sống và có đăng ký kết hôn nêu trên, nguyên nhân mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, kinh tế tiền bạc, anh N không có ngoại tình như lời chị Y trình bày. Nay anh Ngô Thanh N không thống nhất ly hôn với chị Bùi Thị Y, muốn hàn gắn đoàn tụ để nuôi con, hiện nay các con còn nhỏ. Về con chung thống nhất giao cháu A và cháu Đ cho chị Y nuôi dưỡng, anh N không thống nhất cấp dưỡng cho các con, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đến tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm. Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Y đối với anh Ngô Thanh N, về con chung chấp nhận yêu cầu của chị Y về việc giao con chung là Ngô Bình A và Ngô Thành Đ cho chị Bùi Thị Y tiếp tục nuôi dưỡng, anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng chấp nhận yêu cầu của chị Y về việc cấp dưỡng cho cháu Đ, buộc anh N cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Đ với mức cấp dưỡng ½ tháng lương tối thiểu vung tại nơi anh N cư trú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Ngô Thanh N, hiện nay đăng ký cư trú ấp B, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị Y và anh N có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị Y yêu cầu ly hôn với anh N, yêu cầu nuôi con chung và yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và nuôi con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Y vắng mặt có đơn xin vắng và bị đơn anh N vắng mặt lần thứ 2 không nêu lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh N cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh N là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Y và anh N là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, kinh tế, tiền bạc, không yêu thương, chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân hơn 01 năm, anh N có mối quan hệ ngoại tình, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, nhưng đến nay vẫn không hàn gắn đoàn tụ được. Nay chị Y yêu cầu ly hôn với anh N và anh N không thống nhất ly hôn với chị Y. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị Y và anh N không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị Y và anh N đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh N không đến, từ đó cho thấy anh N không muốn hàn gắn đoàn tụ với chị Y.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Y đối với anh Ngô Thanh N là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Con chung Ngô Bình A, sinh ngày 06/4/2008 và cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021, chị Y yêu cầu được nuôi 02 con chung nêu trên, anh N thống nhất giao cháu A và cháu Đ cho chị Y nuôi dưỡng. Hiện nay cháu A và cháu Đ đang do chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu A được chị Y nuôi dưỡng và cháu Đ mới hơn 03 tuổi. Để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con chung giữa chị Y và anh N, tiếp tục giao cháu Ngô Bình A, sinh ngày 06/4/2008 và cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021 cho chị Bùi Thị Y nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu A và cháu Đ không ai được cản trở.

[2.2.2.] Về cấp dưỡng cho con: Đối với cháu Ngô Bình A, sinh ngày 06/4/2008, chị Y không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho cháu A, do đây là sự tự nguyện của chị Y nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021, cháu Đ được giao cho chị Y nuôi dưỡng và chị Y yêu cầu anh N cấp dưỡng cho cháu Đ với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng, anh N không thống nhất cấp dưỡng cho các Đ, nên giữa chị Y và anh N không thỏa thuận được mức cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy chị Y là người trực tiếp nuôi con, có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con là anh N cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng phải phù hợp với thu nhập của anh N. Căn cứ lời khai của chị Y hiện nay anh N làm công nhân bóc vác, không biết thu nhập bao nhiêu. Ngoài ra, chị Y không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh thu nhập hàng tháng và khả năng thực tế của anh N để yêu cầu mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng/cháu, nên không có căn cứ để buộc anh N cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng theo yêu cầu của chị Y.

Đối với thời hạn cấp dưỡng cho cháu Đ: Chị Y yêu cầu thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày nhận đơn khởi kiện là ngày 25/4/2024 là phù hợp với quy định tại khoản 24 Điều 3, Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 281 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Đ với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương tối thiểu vùng tại nơi anh Ngô Thanh N đang cư trú, là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, 83 Điều 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

- Nguyên đơn chị Bùi Thị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn anh Ngô Thanh N phải chịu án phí cấp dưỡng cho con.

[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 24 Điều 3, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, Điều 107 Điều 110, 116 Luật hôn nhân gia đình; Điều 281 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Y đối với anh Ngô Thanh N, cho chị Bùi Thị Ý ly hôn với anh Ngô Thanh N.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Thị Y và anh Ngô Thanh N về việc nuôi con chung.

    Giao cháu Ngô Bình A, sinh ngày 06/4/2008 và cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021 cho chị Bùi Thị Y tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Ngô Thanh N có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Ngô Thành Đ, sinh ngày 10/01/2021 với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương tối thiểu vùng tại nơi anh Ngô Thanh N đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con đến khi cháu Ngô Thành Đ trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày nhận đơn khởi kiện là ngày 25/4/2024.

    Sau khi ly hôn, anh Ngô Thanh N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Anh Ngô Thanh N không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Bùi Thị Y có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Ngô Thanh N.

  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    - Nguyên đơn chị Bùi Thị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Bùi Thị Y đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006567 ngày 25/4/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị Bùi Thị Y không phải nộp thêm.

    - Bị đơn anh Ngô Thanh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS ND huyện;
  • - Chi cục THA DS huyện;
  • - Tòa án ND tỉnh;
  • - Cổng TTĐT Tòa án;
  • - UBND xã An Phong, TB, ĐT;
  • - Lưu: VT/, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lý Thị Bích Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger