|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 16-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Tấn và ông Nguyễn Đức Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Vân Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Long- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Thị D, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ B, khu N, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn T và con bà: Nguyễn Thị D1; Chồng: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Bị cáo có 06 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2022.
- Tiền án:
+ Tại bản án số 109/2022/HSST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán người” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 08/12/2021). Tổng hợp với hình phạt của Bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2022 (được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 23/11/2010 đến ngày 29/11/2010 của bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012); chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/11/2022.
+ Tại bản án số 81/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán người” và 12 năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 04/12/2021). Buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 20 năm tù; tổng hợp với hình phạt 10 năm tù của bản án số 109/2022/HSST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình buộc D chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2022 (được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 23/11/2010 đến ngày 29/11/2010 của Bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012); buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và truy thu để tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 14.200.000 đồng. Đến nay D chưa chấp hành phần án phí và truy thu sung ngân sách nhà nước.
+ Tại bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 23/11/2010 đến ngày 29/11/2010). Buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo D đi chấp hành hình phạt tù ngày 22/5/2022, chấp hành xong phần án phí ngày 01/8/2012.
- Tiền sự: Không.
- Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam N2- Bộ C1 (địa điểm tại tỉnh Ninh Bình) có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1985; (có mặt)
Địa chỉ: TDP H, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Thân Văn N, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1964; (vắng mặt)
- Bà Đinh Thị H, sinh năm 1965; (vắng mặt)
- Anh Thân Văn S, sinh năm 1991; (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP Bẩy, phường Tăng Tiến, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Nghĩa Tiến, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Nghĩa Tiến, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: TDP B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị D và chị Phạm Thị T2 có quen biết nhau. Vào khoảng 14 giờ ngày 26/01/2019, Vũ Thị D đến gặp chị T2 tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện V (nay là phường B, thị xã V), tỉnh Bắc Giang hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125, màu sơn đen, BKS 98D1- 706.90 của chị T2 để đi lại và được chị T2 đồng ý và giao xe mô tô cho D mượn. Khoảng 19 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô đến gặp chị T2 nói muốn đi về nhà tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh nên đã hỏi chị T2 cho mượn giấy đăng ký xe mô tô 98D1- 706.90. Vì là chỗ quen biết nên chị T2 tin tưởng, đưa cho D đăng ký xe mô tô, đồng thời chị T2 viết “Giấy biên nhận mượn xe” cho D ký tên, điểm chỉ để làm căn cứ. Sau khi mượn được xe mô tô và giấy đăng ký xe, D nảy sinh ý định mang chiếc xe đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 15 giờ ngày 27/01/2019, D điều khiển xe mô tô mượn của chị T2 đến nhà anh Thân Văn N ở tổ dân phố B, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, D nói với anh N chiếc xe trên là của D mua lại của chị gái và muốn bán cho anh N với giá 50.000.000 đồng, đồng thời D đưa cho anh N đăng ký xe mô tô và giấy phép lái xe mô tô của Vũ Thị D. Sau khi kiểm tra đăng ký xe trùng với BKS xe mô tô, giấy phép lái xe đứng tên Vũ Thị D nên anh N tin tưởng, đồng ý mua với giá 50.000.000 đồng và hẹn D hôm sau mang căn cước công dân của chị gái D đến để anh N làm thủ tục sang tên, đổi chủ đồng thời giữ lại giấy phép lái xe mô tô của D thì D đồng ý. Sau khi nhận tiền, D viết giấy cam kết bán chiếc xe mô tô 98D1- 706.90 trên cho anh N đề ngày 27/01/2019. Khoảng một tuần sau, do không thấy D quay lại nên anh N đã bán chiếc xe cho một người đàn ông không quen biết tại huyện S, tỉnh Bắc Giang với giá 50.000.000 đồng.
Ngày 28/3/2019, do không thấy D mang trả lại xe mô tô và đăng ký xe nên chị Phạm Thị T2 đã làm đơn trình báo đến Công an huyện V (nay là thị xã V) tố giác hành vi của Vũ Thị D.
Ngày 21/5/2023, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V (nay là thị xã V) định giá chiếc xe mô tô trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu sơn đen, BKS 98D1- 706.90 có giá trị 70.000.000 đồng.
Ngày 03/6/2019, chị Phạm Thị T2 giao nộp 01 “Giấy biên nhận mượn xe” có nội dung chị T2 cho D mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125, BKS 98D1- 706.90 có chữ ký, điểm chỉ của Vũ Thị D tại mục “người mượn xe” cho Cơ quan điều tra.
Ngày 17/10/2023, Cơ quan điều tra trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B tiến hành giám định chữ ký, chữ viết, dấu vân tay của Vũ Thị D trong “Giấy biên nhận mượn xe” chị T2 giao nộp được đánh số giám định (ký hiệu A1) và “Giấy cam kết bán xe máy" do anh N giao nộp được đánh số giám định (ký hiệu A2). Tại bản kết luận giám định số 2110/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:
- - Phòng K không tiến hành giám định đối với tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) do là tài liệu sao chụp (photocopy).
- - Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Duyên Vũ Thị D” dưới mục “Người mượn xe” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị D trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M4) là do cùng một người ký, viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 - trừ chữ ký, chữ viết có nội dung “Duyên Vũ Thị D” dưới mục “Người mượn xe”) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Thị T2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M5, M6) là do cùng một người ký, viết ra.
- - Các dấu vân tay màu đỏ dưới mục “Người mượn xe” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) mờ nhòe, không thể hiện rõ đặc điểm, không đủ yếu tố tiến hành giám định. (Bút lục 44-48).
Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô 98D1- 706.90; quá trình điều tra xác định anh N sau khi mua chiếc xe trên của bị cáo D, đã bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại huyện S, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng đến nay không thu hồi được chiếc xe trên.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Phạm Thị T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 70.000.000 đồng bằng giá trị chiếc xe đã được định giá. Tuy nhiên tại phiên toà chị Phạm Thị T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe, việc không yêu cầu bị cáo bồi thường là do chị hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc hoặc đe doạ chị đồng thời chị T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 70/CT-VKS ngày 29 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Vũ Thị D phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 55, Điều 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Vũ Thị D từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 30 năm tù của bản án số: 81/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 năm tù. Thời hạn chấp hành hành hình phạt tù kể từ ngày 22/5/2022 (được trừ thời gian bị tạm giữ của bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
Vật chứng: không thu hồi được nên không đặt ra giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Do tại phiên toà chị T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường do vậy không đặt ra giải quyết.
Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo Vũ Thị D phải chịu 200.000 đồng phí hình sự.
Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện V (nay là thị xã V), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.
[2] Khoảng 15 giờ ngày 27/01/2019, tại thôn B, xã T, huyện V (nay là tổ dân phố B, phường T, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Vũ Thị D đã có hành vi lạm dụng sự tin tưởng của chị Phạm Thị T2 đã mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125, màu sơn đen, biển kiểm soát 98D1- 706.90 có trị giá 70.000.000 đồng của chị Phạm Thị T2 bán cho anh Thân Văn N với giá 50.000.000 đồng chi tiêu cá nhân hết. Tài sản không thu hồi được.
[3] Tại cơ quan điều tra bị cáo chối tội, tuy nhiên tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với: thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Vũ Thị D phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng nhiều lần bị kết án: Tại Bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Vũ Thị D 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 23/11/2010 đến ngày 29/11/2010. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo được hoãn chấp hành án do trong thời kỳ nuôi con nhỏ, tuy nhiên trong thời gian hoãn chấp hành chấp hành án bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của bản án này, sau đó bị cáo lại tiếp tục các hành vi phạm tội tiếp theo và đã đưa ra xét xử (hành vi sau xử trước). Cụ thể: Tại Bản án số 109/2022/HSST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán người”; Tại bản án số 81/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán người” và 12 năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 04/12/2021). Buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 20 năm tù. Tổng hợp hình phạt chung của nhiều Bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm tù. Thời hạn chấp hành hành hình phạt tù kể từ ngày 22/5/2022 (được trừ thời gian bị tạm giữ của bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
Do bị cáo thực hiện hành vi sau nhưng xét xử trước đã có hiệu lực pháp luật, bị cáo chưa chấp hành án, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét lượng hình đối với bị cáo.
Do bị cáo Vũ Thị D đang chấp hành án của bản án khác mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nên căn cứ khoản 2 Điều 56 để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của của hai bản án.
Tuy nhiên Tại bản án số 81/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán người” và 12 năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 04/12/2021). Buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 20 năm tù; tổng hợp với hình phạt 10 năm tù của bản án số 109/2022/HSST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình buộc bị cáo D chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 năm tù, do vậy căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự quy định về giới hạn đối với hình phạt tù có thời hạn để tuyên bị cáo phải chấp hành án theo quy định của pháp luật.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được nên không đặt ra giải quyết.
[7] Trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra chị Phạm Thị T2 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125, màu sơn đen, biển kiểm soát 98D1- 706.90 là 70.000.000đồng. Tuy nhiên tại phiên toà, chị Phạm Thị T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe, việc không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe là do chị T2 hoàn toàn tự nguyện không bị ai đe doạ, uy hiếp chị. Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Phạm Thị T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự đối với giá trị chiếc xe là hoàn tự nguyện và là quyền quyết định và tự định đoạt của chị phù hợp với pháp luật, do vậy không đặt ra giải quyết.
[8] Liên quan trong vụ án này đối với Thân Văn N đã mua chiếc xe của bị cáo chiến đoạt của chị Phạm Thị T2, xong anh N1 không biết chiếc xe là do trang phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý anh Thân Văn N là phù hợp.
[9] Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị D 03 (Ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 30 năm tù của bản án số: 81/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 năm tù. Thời hạn chấp hành hành hình phạt tù kể từ ngày 22/5/2022 (được trừ thời gian bị tạm giữ của bản án số 44/2012/HSST ngày 16/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án: Không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng phí hình sự.
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Văn Tấn Nguyễn Đức Hiền |
Vũ Tân Thịnh |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Tân Thịnh |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: làmdụng
