Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST.

Ngày 15/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;

Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Xuân K, sinh năm 2000; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Số nhà A, đường T, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vân: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân G, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Vũ Thị H, sinh năm 1966; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Không có; nhân thân: Ngày 20/01/2017, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 30/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Dương Hồng A, sinh năm 2001; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Số nhà A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Hồng T, sinh năm 1976 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 30/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 2001; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Số nhà B, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 30/11/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vũ Văn B, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số nhà C, ngõ C, đường L, phường D, thành phố B (vắng mặt);

2. Anh Hà Anh T4, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số nhà A, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);

3. Anh Phan Đỗ Đại D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, tổ dân phố số G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

4. Anh Đào Quang T5, sinh năm 1998; nơi cư trú: Số nhà A, tổ dân phố G, đường G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

5. Ông Dương Văn Q, sinh năm 1946; nơi cư trú: Số nhà A, đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/11/2023, Vũ Xuân K đặt mua trên mạng xã hội của người không quen biết 01 túi ma tuý Cần sa với giá 2.900.000 đồng. Bị cáo cất giấu số ma tuý này tại nhà mục đích vừa sử dụng vừa bán lại cho người khác để thu lợi.

Dương Hồng A có quen biết Nguyễn Xuân T1Vũ Văn B. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, Dương Hồng AVũ Văn B ngồi uống nước cùng nhau tại quán nước trên vỉa hè đường L, phường D. Trong lúc đang ngồi uống nước, Dương Hồng A nhận được cuộc gọi của Nguyễn Xuân T1 gọi đến nói “gọi 1 pack để tối sử dụng”. Ý của T1 là rủ mua ma tuý để cùng sử dụng. Hồng A hiểu ý T1 bảo đi mua Cần sa để sử dụng nên đồng ý và hẹn T1 đến tối gặp nhau tại quán nước của anh Đào Quang Tuấn ở số A đường G, phường D, thành phố B để cùng sử dụng ma túy. Sau đó, Hồng A nhờ B mua giúp 01 túi cần sa. Hồng A đưa cho B 250.000 đồng để nhờ mua giúp cần sa. Sau đó, B nhắn tin qua M cho Vũ Xuân K hỏi mua 250.000 đồng ma túy cần sa và hẹn đem đến giao cho B .

Sau khi Vũ Xuân K nhận được điện thoại của B thì lấy 01 túi cần sa để ở hộp đựng giầy tại nhà rồi đi xe mô tô BKS 98B3 - 814.12 đi giao ma túy. Đến khu vực đầu ngõ đường vào nhà B thì gọi điện cho B biết. B đi ra gặp thì K đưa cho 01 túi nilon đựng cần sa và trả cho K 250.000 đồng sau đó cầm túi cần sa đem về nhà rồi gọi điện báo cho Hồng A biết đã mua được ma túy và bảo đi đến đầu ngõ lấy. Một lúc sau, Hồng A đi xe đạp từ nhà đến khu vực đầu ngõ gặp và được B đưa cho túi nilon đựng cần sa.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân T1 cùng Phan Đỗ Đại D ngồi uống bia ở gần cầu S. T1 gọi điện cho Hồng A rủ đi uống bia thì Hồng A từ chối và nói do đã mua ma túy về sử dụng nên không còn tiền. Hai người hẹn nhau đến quán nước 181 G để sử dụng ma túy. Hồng A mang theo túi ma túy cần sa đi bộ ra quán nước đợi. Trong khi chờ T1 đến, Hồng A nhắn tin Mesenger cho bạn là Hà Anh T4 rủ ra quán uống nước. Một lúc sau, T1 rủ D đi uống nước tại quán nước A G và gặp Hồng A. Sau đó, Hà Anh T4 đi xe máy đến và ngồi uống nước cùng mọi người. Trong lúc ngồi uống nước, Dương Hồng A lấy từ trong túi quần ra 01 túi nilon đựng cần sa để trên mặt bàn cho mọi người sử dụng. Nguyễn Xuân T1 lấy một ít cần sa trong túi cho vào điếu cày và dùng bật lửa ở quán tự sử dụng bằng cách châm hút vào cơ thể. Sau đó, T1 đưa điếu cày cho Hồng A để sử dụng ma túy. Hồng A lấy một ít cần sa trong túi cho vào điếu cày của quán nước và dùng bật lửa tự châm hút. Sau khi sử dụng xong, Hồng A đưa điếu cho Hà Anh T4 sử dụng ma túy. Ba người lần lượt thay nhau sử dụng hết số ma túy đã mua. D ngồi uống nước và không sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma tuý xong, Hồng A cầm vỏ túi nilon đựng số cần sa vừa sử dụng hết vứt ra bãi rác tại trước cửa quán rồi mọi người ra về.

Ngày 29/11/2023, Nguyễn Xuân T1 đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự thì bị Ban Chỉ huy quân sự thành phố B phát hiện đã sử dụng ma túy cần sa nên đã lập biên bản và bàn giao cho Công an thành phố B xử lý.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 29/11/2023 của Công an thành phố B đối với Vũ Xuân K, Vũ Văn B, Dương Hồng A, Nguyễn Xuân T1, Hà Anh T4 đều dương tính với ma túy THC. Phan Đỗ Đại D âm tính với ma túy.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Xuân K tại số nhà A, đường T, TDP T, phường L, thành phố B đã thu giữ:

  • - 02 túi nilon màu trắng, đều có một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, mở kiểm tra bên trong mỗi túi đều đựng mẫu thực vật khô - nghi là ma túy loại cần sa, phát hiện thu giữ trong ngăn túi balo để ở nền phòng khách, được cho vào trong một phong bì thư ký hiệu “KX01”.
  • - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, mở kiểm tra bên trong đựng mẫu thực vật khô - nghi là ma túy loại cần sa, phát hiện thu giữ trong balo treo ở trong phòng ngủ tầng 2, được cho vào trong một phong bì thư ký hiệu “KX02"
  • - 01 hộp nhiều hoa văn trên bề mặt, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa; nhiều tờ giấy dạng giấy cuốn
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xám
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen
  • - 01 xe mô tô BKS 98B3 - 814.12.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ tại nơi ở của Vũ Xuân K. Kết luận giám định số 2367/KL – KTHS ngày 05/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • - Trong 01 (một) phong bì thư có ký hiệu "KX01" được niêm phong, gửi giám định: Trong mẫu thực vật khô đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ đều có tìm thấy chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol, tổng khối lượng của mẫu thực vật khô là 1,720 gam.
  • - Trong 01 (một) phong bì thư có ký hiệu "KX02" được niêm phong, gửi giám định: Trong mẫu thực vật khô đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ có tìm thấy chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol, khối lượng của mẫu thực vật khô là 0,933 gam.

Kết luận giám định số 1092/KL – KTHS ngày 29/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • + Các thực vật khô bên trong 02 phong bì thư ký hiệu KX01, KX02 gửi giám định là Cần sa.
  • + THC (Delta-9- tetrahydrocanabinol) là hoạt chất, thành phần chính trong Cần sa.

Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 08/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Vũ Xuân K về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; bị cáo Dương Hồng ANguyễn Xuân T1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự..

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo khai thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng nêu.

- Bị cáo Vũ Xuân K: Buổi chiều ngày 28/11/2023, sau khi nhận được điện thoại của B thì bị cáo lấy 01 túi cần sa để ở hộp đựng giầy tại nhà rồi điều khiển xe mô tô BKS 98B3 - 814.12 đi giao ma túy. Bị cáo đi đến khu vực đầu ngõ đường vào nhà B thì gọi điện cho B biết. B đi ra gặp bị cáo và bị cáo đưa cho 01 túi nilon đựng cần sa. B trả cho bị cáo 250.000 đồng. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi bị bắt, bị cáo bị thu giữ một điện thoại di động Iphone 12 Pro, một điện thoại N, một xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 98B3 - 814.12, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Dương Hồng A: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, bị cáo và Vũ Văn B ngồi uống nước cùng nhau tại quán nước trên vỉa hè đường L, phường D. Bị cáo nhận được cuộc gọi Nguyễn Xuân T1 gọi đến nói “gọi 1 pack để tối sử dụng”. Bị cáo hiểu ý T1 bảo đi mua Cần sa để sử dụng và hẹn T1 đến tối gặp nhau tại quán nước của anh Đào Quang Tuấn ở số A đường G, phường D để cùng sử dụng ma túy. Bị cáo đưa cho B 250.000 đồng để nhờ mua giúp cần sa. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, tại quán Al bị cáo lấy từ trong túi quần ra 01 túi nilon đựng cần sa để trên mặt bàn cho mọi người sử dụng. Nguyễn Xuân T1 lấy một ít cần sa trong túi cho vào điếu cày và dùng bật lửa ở quán tự sử dụng bằng cách châm hút. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi bị bắt, bị cáo bị thu giữ một điện thoại Iphone 13, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Xuân T1: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, bị cáo gọi điện cho Dương Hồng A nói “gọi 1 pack để tối sử dụng”. Bị cáo và bị cáo Hồng A hẹn đến tối gặp nhau tại quán nước của anh Đào Quang Tuấn ở số A đường G, để cùng sử dụng ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, tại quán Al bị cáo Hồng A lấy từ trong túi quần ra 01 túi nilon đựng cần sa để trên mặt bàn cho mọi người sử dụng. Bị cáo lấy một ít cần sa trong túi cho vào điếu cày và dùng bật lửa ở quán tự sử dụng bằng cách châm hút vào cơ thể. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi bị bắt, bị cáo bị thu giữ một điện thoại Iphone 7, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lời khai nhận:

  • - Anh Vũ Văn B: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/11/2023, anh và bị cáo Dương Hồng A ngồi uống nước cùng nhau tại quán nước trên vỉa hè đường L, phường D. Trong lúc đang ngồi uống nước, Dương Hồng A nhờ anh mua giúp 01 túi cần sa. Hồng A đưa cho 250.000 đồng để nhờ mua giúp cần sa. Sau đó, anh nhắn tin cho Vũ Xuân K hỏi mua 250.000 đồng ma túy cần sa. Bản thân anh không tham gia bàn bạc với Dương Hồng ANguyễn Xuân T1 về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, không tham gia sử dụng ma tuý. Ngoài ra, cách đó khoảng 3 ngày anh có sử dụng ma túy cần sa, kết quả xét nghiệm dương tính với THC. Do vậy, Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh về các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Anh Phan Đỗ Đại D: Khoảng 19 giờ 30 phút 28/11/2023, anh cùng Nguyễn Xuân T1 ngồi uống bia ở gần cầu S. Sau đó, không uống bia nữa thì bị cáo T1 rủ anh đi uống nước. Anh điều khiển xe máy chở T1 đến quán Al gặp Hồng A. Sau đó, Hà Anh T4 đi xe máy đến và ngồi uống nước cùng mọi người. Trong lúc ngồi uống nước, Dương Hồng A lấy ra 01 túi nilon đựng cần sa để trên mặt bàn cho mọi người sử dụng. Anh ngồi uống nước và không sử dụng ma túy.
  • - Anh Hà Anh T4: Buổi tối ngày 28/11/2023, bị cáo Dương Hồng A nhắn tin cho anh rủ ra quán 181 G uống nước. Trong lúc ngồi uống nước, Dương Hồng A lấy từ trong túi quần ra 01 túi nilon đựng cần sa để trên mặt bàn cho mọi người sử dụng. Anh cũng có sử dụng trái phép chất ma túy. Nên đã bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Anh Đào Quang Tuấn: Anh là chủ quán nước số A đường G, phường D. Tối ngày 28/11/2023 các bị cáo và một số người khác uống nước tại quán. Anh không biết các đối tượng sử dụng ma tuý tại quán.
  • - Ông Dương Văn Q: Ông là ông nội của bị cáo Dương Hồng A. Chiếc xe đạp thu giữ của Dương Hồng A thuộc sở hữu của ông, ông đã được Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp. Nay, ông không có yêu cầu gì.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Xuân K từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2023).

Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Dương Hồng A từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2023).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2023).

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) hộp nhiều hoa văn trên bề mặt, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều tờ giấy dạng giấy cuốn;01 (một) chiếc điếu cày màu nâu vàng.
  • - Trả lại cho: Vũ Xuân K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 353715073884625, số IMEI 2: 3537150738844633 điện thoại đều cũ đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn xanh đen lắp BKS: 98B3 - 814.12, xe cũ đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của:
  • Vũ Xuân K: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xám, số IMEI: 356696113922558;
  • Nguyễn Xuân T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, số IMEI: 355843089504272, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • Dương Hồng A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, số IMEI: 356755859978297, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước đối với Vũ Xuân K số tiền 250.000 đồng.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời khai, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3]. Về tội danh:

Sau khi xem xét lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, bản kết luận giám định ma tuý của Phòng K1 - Công an tỉnh B, cũng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Buổi chiều ngày 28/11/2023, Nguyễn Xuân T1 gọi điện cho Dương Hồng A bảo đi mua ma túy cần sa về sử dụng. Hồng A đồng ý và hẹn với T1 buổi tối đi đến quán nước 181 đường G để sử dụng ma túy. Hồng A đưa cho Vũ Xuân B1 250.000 đồng nhờ giúp mua ma túy nhưng không nói cho B1 biết mục đích mua ma túy. B1 liên lạc với Vũ Xuân K và được K bán cho 01 túi ma túy cần sa với giá 250.000 đồng. Sau đó, B1 đưa lại túi ma túy này cho Dương Hồng A. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, Dương Hồng A mang theo túi cần sa và rủ Hà Anh T4 đến quán nước 181 đường G và hẹn T1 đến để sử dụng ma túy. Tại đây, T1, Hồng A sử dụng ma tuý và tổ chức cho Hà Anh T4 cùng sử dụng ma tuý. Ba người cùng nhau sử dụng hết số ma túy mà Dương Hồng A đã mua.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Vũ Xuân K đã thu giữ tổng khối lượng 2.653 gam, loại Cần sa. K khai cất giấu số ma tuý trên mục đích vừa sử dụng vừa bán lại cho người khác.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma tuý của Nhà nước.

Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Vũ Xuân K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Các bị cáo Dương Hồng ANguyễn Xuân T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, quy định: “1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Do đó, Cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 08/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với các bị cáo Vũ Xuân K, Dương Hồng ANguyễn Xuân T1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Xét về vai trò của các bị cáo:

Bị cáo Vũ Xuân K phải chịu trách nhiệm độc lập về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Bị cáo Dương Hồng A là người trực tiếp lấy tiền của mình mua ma túy và trực tiếp mua ma túy để cùng sử dụng. Nên, vai trò của bị cáo Dương Hồng A cao hơn Nguyễn Xuân T1.

[5]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết như sau:

5.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

5.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Điều tra, cũng như tại phiên toà, các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; các bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, để giáo dục các bị cáo, theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Xuân K do mua bán và được hưởng lợi theo quy định tại khoản 5 Điều 251. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Dương Hồng ANguyễn Xuân T1 theo khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

[7]. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) hộp nhiều hoa văn trên bề mặt, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều tờ giấy dạng giấy cuốn;01 (một) chiếc điếu cày màu nâu vàng.
  • - Trả lại cho: Vũ Xuân K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 353715073884625, số IMEI 2: 3537150738844633; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn xanh đen lắp BKS: 98B3 - 814.12, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của:
  • Vũ Xuân K: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xám, số IMEI: 356696113922558;
  • Nguyễn Xuân T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, số IMEI: 355843089504272, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • Dương Hồng A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, số IMEI: 356755859978297, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 đồng đối với Vũ Xuân K.

[8]. Vấn đề khác:

8.1. Về nguồn gốc số ma túy cần sa thu giữ khi khám xét: Vũ Xuân K mua qua mạng xã hội của người không quen biết với giá 2.900.000 đồng thanh toán qua tài khoản số [...], nhận ma tuý qua nhân viên giao hàng. Quá trình điều tra xác định số tài khoản này là của Trần Thị Ngọc S, sinh năm 1983 ở thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Chị S khai chưa sử dụng tài khoản này thì bị mất. Kết quả điều tra không làm rõ được người đã bán ma túy cho K, Hội đồng xét xử thấy không xem xét.

8.2. Đối với Vũ Văn B được Dương Hồng A nhờ giúp mua ma túy cần sa. Bản thân B không tham gia bàn bạc với Dương Hồng ANguyễn Xuân T1 về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, không tham gia sử dụng ma tuý nên không đồng phạm. Hành vi của B là tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng số ma túy này đã được sử dụng hết nên không xác định được khối lượng. Ngoài ra, B khai cách đó khoảng 3 ngày có sử dụng ma túy cần sa, kết quả xét nghiệm dương tính với THC. Do vậy, Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B về các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, không xem xét.

8.3. Đối với Hà Anh T4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, không xem xét.

8.4. Đối với anh Đào Quang Tuấn là chủ quán nước A đường G, phường D, thành phố B không biết các đối tượng sử dụng ma tuý tại quán. Phan Đỗ Đại D có mặt tại quán nhưng không sử dụng ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, không xem xét.

8.5. Chiếc xe đạp thu giữ của Dương Hồng A thuộc sở hữu của ông Dương Văn Q, ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho ông Q, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[9]. Tạm giam các bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

1.1. Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Xuân K 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023.

Phạt bổ sung đối với Vũ Xuân K 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

1.2.1. Xử phạt: Bị cáo Dương Hồng A 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023;

1.2.2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T1 02 (Hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023.

2. Về vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) hộp nhiều hoa văn trên bề mặt, bên trong đựng nhiều túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều tờ giấy dạng giấy cuốn; 01 (một) chiếc điếu cày màu nâu vàng.

2.2. Trả lại cho: Vũ Xuân K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 353715073884625, số IMEI 2: 3537150738844633; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu sơn xanh đen lắp BKS: 98B3 - 814.12, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

2.3. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của:

2.3.1. Vũ Xuân K: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xám, số IMEI: 356696113922558;

2.3.2. Nguyễn Xuân T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, số IMEI: 355843089504272.

2.3.3. Dương Hồng A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh, số IMEI: 356755859978297.

2.4. Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) đối với Vũ Xuân K .

3. Án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc các bị cáo Vũ Xuân K, Dương Hồng ANguyễn Xuân T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tp Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND phường Lê Lợi, phường Trần Phú, phường Dĩnh Kế, tp Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Trần Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

 

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 15/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Xuân Khôi "Mua bán MT"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger