Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vừ Thị Hoa

Ông Tòng Văn Đại

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2024/TLST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Thị D; Sinh ngày 01/01/1975 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A N (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Giàng Thị T (không xác định được năm sinh, đã chết); Bị cáo có chồng là Thào A M, sinh năm 1974 và có 03 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 05/7/2022, Vàng Thị D bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Vàng Thị D đã chấp hành xong quyết định ngày 05/7/2022, hiện đã được xoá tiền sự.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/3/2024, tạm giam từ ngày 17/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Vàng Thị D: Ông Lê Mạnh H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. (Có mặt).

Những người làm chứng:

Anh Đèo Văn L;

Anh Lường Văn C.

(Đều vắng mặt không có lý do chính đáng).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 07/3/2024, Vàng Thị D đi bộ từ nhà tại bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản H, xã T, huyện T, mục đích tìm mua Heroine sử dụng và bán. Tại bản Hô Ta, Vàng Thị D mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với giá 100.000 đồng. Mua được H1, Vàng Thị D mang về nhà tại bản N, xã T, huyện T và nhiều lần cấu lấy một ít Heroine sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Vàng Thị D cất giấu vào trong túi vải đeo trước bụng không cho ai biết. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/3/2024, khi Vàng Thị D đang ở nhà thì có Đèo Văn L (Sinh năm 1997, trú tại bản Lun 1, xã T, huyện T) và Lường Văn C (Sinh năm 1993, trú tại bản P, xã T, huyện T) đến hỏi mua Heroine. Lường Văn C là người trực tiếp hỏi mua H1 thì Vàng Thị D đồng ý, Lường Văn C đưa cho Vàng Thị D số tiền 50.000 đồng. Vàng Thị D cầm tiền rồi nói với Lường Văn C là mua 50.000 đồng thì ít quá, Vàng Thị D không bán. Thấy Vàng Thị D nói vậy, Đèo Văn L đứng bên cạnh đưa cho Lường Văn C 50.000 đồng để góp với Lường Văn C mua Heroine của Vàng Thị D. Lường Văn C nhận tiền từ Đèo Văn L rồi đưa thêm cho Vàng Thị D số tiền 50.000 đồng. Vàng Thị D cầm tổng số tiền 100.000 đồng rồi lấy gói Heroine trong túi vải ra đưa cho Lường Văn C và bảo Lường Văn C, Đèo Văn L tự chia nhau. Mua được H1, Lường Văn C và Đèo Văn L mang ra bụi cây thuộc bản Hô Ta, xã T, huyện T sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, thu giữ của Đèo Văn L, Lường Văn C mỗi người 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Vàng Thị D, Cơ quan điều tra thu giữ trên mặt chiếu trải tại nền nhà của Vàng Thị D 01 cục chất bột màu trắng (D khai là thuốc chữa đau đầu) và số tiền 100.000 đồng do Vàng Thị D bán Heroine cho Lường Văn C, Đèo Văn L mà có.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 10 ngày 08/3/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và Kết luận giám định số 296 ngày 12/3/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Thị D có khối lượng 0,06 gam có chứa chất A (P) và chất ma túy, loại Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 295 ngày 14/3/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 100.000 đồng thu giữ của Vàng Thị D là tiền thật .

Vật chứng của vụ án gồm: 0,06 gam có chứa chất A1 (P) và chất ma túy, loại Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám hết (không hoàn lại mẫu vật); 01 mảnh ni lon màu hồng; 02 bơm kim tiêm; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu và số tiền 100.000 đồng hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

2

Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Vàng Thị D về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Thị D từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 02 bơm kim tiêm, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Về mức hình phạt: Do bị cáo Vàng Thị D là phụ nữ dân tộc thiểu số, không được đi học, không biết chữ, quá trình điểu tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố

3

tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 07/3/2024, tại bản Hô Ta, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị D đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người không rõ lai lịch với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán. Mua được H1, Vàng Thị D mang về nhà và nhiều lần cấu Heroine ra sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/3/2024, tại bản Nậm Pắt, xã T, huyện T, Vàng Thị D đã cùng một lúc bán trái phép 01 gói Heroine cho 02 người là Lường Văn C và Đèo Văn L lấy tổng số tiền 100.000 đồng. Giữ người và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Vàng Thị D, Cơ quan điều tra thu giữ 0,06 gam chất A (Paracetamon) và chất ma túy, loại Heroine cùng số tiền 100.000 đồng do Vàng Thị D bán H1 cho Lường Văn C và Đèo Văn L mà có.

Bị cáo Vàng Thị D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do nghiện ma tuý, bị cáo đã có hành vi mua ma tuý về sử dụng và bán, ngày 07/3/2024 Vàng Thị D cố ý cùng một lúc bán ma tuý cho hai người là Lường Văn C, Đèo Văn L thu lời bất chính số tiền 100.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Vàng Thị D sinh ra tại huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo không được đi học, không biết chữ, chưa có tiền án nhưng là người nghiện ma tuý. Năm 2022, bị cáo bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá tiền sự. Bị cáo là phụ nữ, là mẹ của ba con nhỏ nhưng đã không làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình, làm gương cho các con mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội.

4

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp nông dân, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với gam chất A (P) và chất ma túy, loại Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định toàn bộ (không hoàn lại mẫu vật) nên không phải xử lý; đối với 01 mảnh nilon màu hồng, 02 bơm kim tiêm, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; đối với số tiền 100.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vàng Thị D là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo Vàng Thị D 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Không chấp nhận đề của của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Do bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nếu hành vi của bị cáo không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật

5

tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng trên mức thấp nhất của khung hình phạt mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Các vấn liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Vàng Thị D khai mua của một người không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lường Văn C và Đèo Văn L, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Đối với 0,06 gam chất A (P) và chất ma túy, loại Heroine bị cáo Vàng Thị D khai tàng trữ để sử dụng dưới mức tối thiểu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị D 07 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 Phong bì bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng, 02 bơm kim tiêm, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Vàng Thị D 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

6

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Quàng Thị Phương

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vàng Thị D - Mua bán trái phép chất ma tuý xử phạt 07 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger