Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/DS-PT.

Ngày: 14/5/2024.

V/v "Tr/c HĐ thuê tài sản là QSD đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hường;

Ông Vũ Thế Mạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Do Bản án sơ thẩm số: 120/2023/DS-ST Ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Tấn T, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Số nhà E ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Nhà T, tổ A, ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Trần Hữu P, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Số nhà B T, khu phố F, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị H, sinh năm: 1956.

Địa chỉ: Tổ 1, ấp Hòn Quéo, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang

  1. Chị Nguyễn Thị D (Vợ anh T), sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Số nhà E ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Nhà T, tổ A, ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

(Anh Tài, ông P, bà H, chị D có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/6/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Tấn T trình bày:

Vào năm 2005, anh có thuê đất trồng lúa của bà H1 (Em ruột của ông P), sau đó một thời gian thuê đất với ông Trần Hữu P (hai bên hợp đồng miệng với nhau) với diện tích 08 công tầm lớn (01 công 1.296m²) đất tọa lạc tại ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, hai bên thoả thuận thuê với giá 22.000.000 đồng/năm, trả tiền thuê đất hàng năm. Đất có vị trí tứ cận giáp ranh như sau: Phía Đông giáp đất ông Võ Văn D1; phía Tây giáp đất ông Năm N; phía Nam giáp đất ông Ba T1; phía Bắc giáp sông K.

Sau khi thuê đất, anh sử dụng đất liên tục ổn định cho đến đầu năm 2022. Đến đầu năm 2023, trước khi chuẩn bị vào vụ mới, thì bà H có nói với anh đất này đang tranh chấp trong gia đình, nên anh T có nói với ông P đi gặp bà H để nói rõ mọi chuyện, nhưng ông P không đồng ý đi và kêu anh T cứ canh tác trên đất, nên anh thuê máy cày vào đổ đất, trang trải đất, thuê người vào dọn đất, trục xới đất và sạ lúa với tổng số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Khi anh sạ lúa được một ngày, thì bà Trần Thị H vào diện tích đất trên nhổ gò, ngăn cản không cho anh làm đất và cắm bảng với nội dung đất này đang tranh chấp giữa bà H với ông P cấm mua bán, canh tác.

Anh đã nhiều lần đến gặp ông P, để yêu cầu ông P trả tiền thuê đất đã nhận của vợ chồng anh số tiền 22.000.000 đồng và các khoản chi phí đầu tư trên đất nêu trên với số tiền 10.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền 32.000.000 đồng, nhưng ông P không đồng ý. Anh có làm đơn thưa ra ấp P, xã M, huyện H giải quyết, nhưng hoà giải không thành.

Việc làm của ông P là rất xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế của anh.

Anh yêu cầu Toà án giải quyết: Chấm dứt hợp đồng cho thuê đất giữa anh với ông Trần Hữu P đối với diện tích 08 công tầm lớn (01 công 1.296m²), đất toạ lạc tại ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang đất có vị trí nêu trên. Đồng thời, yêu cầu Toà án buộc một mình ông P phải trả cho anh số tiền 32.000.000 đồng (bao gồm 22.000.000 đồng thuê đất, 10.000.000 đồng tiền cải tạo đất và lúa giống).

Nếu trường hợp các bên đồng ý thoả thuận, thì anh yêu cầu ông P cho vợ chồng anh làm một năm để cấn trừ số tiền thuê đất là 22.000.000 đồng, còn ông P phải trả cho anh số tiền 10.000.000 đồng tiền cải tạo đất và lúa giống.

* Bị đơn ông Trần Hữu P trình bày:

Ông thừa nhận có cho Lê Tấn T thuê diện tích đất 08 công tầm lớn toạ lạc tại ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Ông cho anh T thuê diện tích đất này hơn 10 năm nay. Giá thuê có thay đổi, nhưng thời gian gần đây là 22.000.000 đồng/năm/08 công tầm lớn. Năm 2023, anh T chưa trả tiền thuê đất cho ông, vì đến khi cuối vụ, bán lúa xong, thì ông mới thu tiền thuê đất, nên ông không đồng ý trả số tiền 22.000.000 đồng cho anh T.

Đối với số tiền 10.000.000 đồng tiền cải tạo đất và lúa giống, thì ông đồng ý trả lại cho anh T, nhưng ông xin trả chậm. Đối với số tiền này, ông sẽ khởi kiện người gây thiệt cho ông bằng vụ án khác.

Nếu bà H đồng ý cho anh T canh tác một năm để trừ tiền thuê đất 22.000.000 đồng và tiền thiệt hại do cải tạo đất, lúa giống là 10.000.000 đồng. Tổng cộng là 32.000.000 đồng, thì ông cũng đồng ý cho anh T canh tác thêm một năm để trừ số tiền này.

Còn việc tranh chấp giữa các anh chị em của ông, thì tự giải quyết, nếu không giải quyết được, thì khởi kiện ra Toà án giải quyết bằng vụ án khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H trình bày:

Phần đất ông P cho anh T thuê canh tác của cha mẹ để lại, chưa được anh em giải quyết xong, bà có nói với anh T đất đang tranh chấp, không nên canh tác. Nhưng anh T vẫn cải tạo đất và sạ lúa, nên bà có lội xuống ruộng nhổ gò và nói với anh T nếu tiếp tục canh tác sẽ cho người thuê xịt thuốc chết hết lúa. Do đó việc anh T vẫn canh tác và gây thiệt hại, thì anh T yêu cầu người cho thuê đất phải chịu trách nhiệm.

Đối với ý kiến của ông P về việc cho anh T canh tác thêm một năm để trừ vào số tiền thuê đất 22.000.000 đồng và tiền thiệt hại do cải tạo đất, lúa giống là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 32.000.000 đồng, thì bà không đồng ý. Vì phần đất này, các anh chị em trong gia đình bà vẫn chưa giải quyết xong, khi nào giải quyết xong, thì khi đó anh T muốn thuê phần đất này canh tác, thì liên hệ với người được giao phần đất này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị D trình bày:

Chị thống nhất trình bày của chồng là anh Lê Tấn T, không bổ sung gì thêm.

* Tại Bản án sơ thẩm số 120/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã tuyên:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn T về việc tranh chấp hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với ông Trần Hữu P.
  2. Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất giữa Lê Tấn T với ông Trần Hữu P.
  3. Buộc ông Trần Hữu P trả cho vợ chồng anh Lê Tấn T, chị Nguyễn Thị Duyên số tiền thuê đất đã nhận là 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng).
  4. Ghi nhận sự nguyện của ông Trần Hữu P trả cho vợ chồng anh Lê Tấn T, chị Nguyễn Thị Duyên số tiền cải tạo đất và lúa giống 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

* Ngày 04/01/2024, ông Trần Hữu P có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 120/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo hướng: Bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tấn T và vợ là bà Nguyễn Thị D buộc ông Trần Hữu P trả cho vợ chồng ông Lê Tấn T, bà Nguyễn Thị Duyên số tiền thuê đất đã nhận là 22.000.000 đồng.

* Ngày 03/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-DS ngày 03/01/2024 với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
  • + Việc tuân theo theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về hướng giải quyết vụ án:

Cấp sơ thẩm không đưa bà Danh Thị M (vợ ông P) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót. Tuy nhiên không cần thiết phải hủy án để đưa bà M vào tham gia tố tụng, bởi lẽ: Theo đơn khởi kiện của anh T và tại phiên tòa phúc thẩm anh T xác định chỉ yêu cầu ông P trả tiền; đất cho thuê là của gia đình ông P, ông P là người đứng ra thỏa thuận không liên quan đến bà M. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, một phần kháng nghị, áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm: Ghi nhận ông P trả 10.000.000 đồng cho anh T, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền 22.000.000 đồng vì không có chứng cứ chứng minh; do ông P là người cao tuổi đề nghị miễn án phí cho ông P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục:

Bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên kháng cáo hợp lệ.

[2].Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất xác định: Vào năm 2005, giữa ông Trần Hữu P với anh Lê Tấn T có xác lập hợp đồng miệng với nhau về việc ông P cho anh T thuê diện tích đất canh tác 08 công tầm lớn (01 công 1.296m²) đất toạ lạc tại ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang với giá 22.000.000 đồng/năm, trả tiền thuê đất hàng năm. Đất có vị trí tứ cận giáp ranh như sau: Phía Đông giáp đất ông Võ Văn D1; phía Tây giáp đất ông Năm N; phía Nam giáp đất ông Ba T1; phía Bắc giáp sông K. Đến năm 2023, khi anh T đã cải tạo đất, sạ lúa, thì bà Trần Thị H lại tiếp tục ngăn cản và không cho anh T tiếp tục canh tác. Nên anh T yêu cầu ông P trả số cho thuê đất đã nhận là 22.000.000 đồng, tiền cải tạo đất và lúa giống là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 32.000.000 đồng, do ông P không đồng ý, hai bên đã phát sinh tranh chấp.

[2.2]. Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Hữu P không đồng ý trả cho anh T tiền thuê đất năm 2023 số tiền 22.000.000 đồng, thấy rằng:

Theo anh T trình bày, vợ chồng anh đã trả tiền thuê cho ông P hàng năm vào vụ đầu tiên của năm. Về phía ông P xác định, năm 2023 anh T chưa trả tiền thuê đất cho ông, vì thường đến cuối vụ, khi bán lúa xong thì ông mới thu tiền thuê đất nên ông không đồng ý trả số tiền 22.000.000 đồng cho vợ chồng anh T.

Tại biên bản hòa giải ngày 28/11/2023 (BL 43) và tại phiên toà sơ thẩm, ông P trình bày: Nếu bà H đồng ý cho anh T canh tác thêm một năm để trừ tiền thuê đất 22.000.000 đồng và tiền thiệt hại do cải tạo đất, lúa giống là 10.000.000 đồng, tổng cộng là 32.000.000 đồng, thì ông cũng đồng ý cho anh T canh tác thêm một năm để trừ số tiền này.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, tại Biên bản ghi lời khai ngày 02/01/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, ông P đều khẳng định năm 2023 chưa nhận 22.000.000 đồng từ anh T; ông P cho rằng, tại buổi hòa giải lý do ông đồng ý cho anh T canh tác 01 năm để trừ tiền là cho êm xuôi mọi chuyện giữa hai bên.

Xét thấy: Giữa anh T với ông P không có văn bản, tài liệu chứng cứ thể hiện việc giao nhận số tiền 22.000.000 đồng để chứng minh việc ông P đã nhận tiền thuê đất năm 2023 của anh T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sơ thẩm căn cứ vào lời khai của một số người dân cho thuê đất, người dân thuê đất canh tác, xác minh chính quyền địa phương ấp P, xã M, huyện H (nơi có phần đất của ông P), căn cứ vào tập quán địa phương cho rằng khi cho thuê đất người cho thuê sẽ lấy tiền trước để phòng ngừa trường hợp người thuê đất không trả tiền do canh tác không hiệu quả - để làm căn cứ giải quyết vụ án là không phù hợp quy định pháp luật. Nên kháng cáo của ông P cho rằng chưa nhận số tiền 22.000.000 đồng từ anh T là có có sở chấp nhận.

Ông P kháng cáo xin trả chậm đối với số tiền 10.000.000 đồng tự nguyện trả cho anh T; việc này không được anh T đồng ý; mặt khác nội dung kháng cáo này không thuộc thẩm quyền của Tòa án nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.3]. Xét nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất:

Về thủ tục: Theo nội dung kháng nghị đề nghị hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm không đưa bà Danh Thị M (vợ ông P) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, khó khăn trong việc thi hành án. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến thay đổi nội dung kháng nghị: Theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đều xác định chỉ kiện yêu cầu ông P trả tiền, không yêu cầu vợ ông P; Về phía ông P cũng xác định, đất cho thuê là của gia đình ông P, cá nhân ông P đứng ra thỏa thuận việc cho thuê không liên quan đến bà Danh Thị M - vợ ông; ông P đồng ý tự trả tiền cho anh T, không liên quan đến vợ ông P nên không cần thiết phải hủy án để đưa bà M vào tham gia tố tụng vì không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án.

Về nội dung: Anh T không cung cấp được chứng cứ cho việc đã trả tiền thuê đất số tiền 22.000.000 đồng cho ông P, ông P cũng không thừa nhận. Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là chưa có căn cứ vững chắc, không có cơ sở xác định ông P đã nhận của nguyên đơn số tiền 22.000.000 đồng.

Nên nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận một phần như đã phân tích ở trên.

Vì vậy, từ những nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Hữu P, chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-DS ngày 03/01/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 120/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

[3].Về án phí:

[3.1]. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Ông Trần Hữu P được miễn án phí sơ thẩm do tại thời điểm xét xử phúc thẩm, ông P đủ 60 tuổi thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
  • + Anh Lê Tấn T phải nộp án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 22.000.000 đồng do yêu cầu không được chấp nhận, án phí là 1.100.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3.2]. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Trần Hữu P không phải nộp án phí phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 472, Điều 473, Điều 474, Điều 478, Điều 481 và Điều 482 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn Trần Hữu P.

Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-DS ngày 03/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn T về việc Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với ông Trần Hữu P.
  2. Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất giữa anh Lê Tấn T với ông Trần Hữu P.
  3. Ghi nhận sự nguyện của ông Trần Hữu P trả cho vợ chồng anh Lê Tấn T, chị Nguyễn Thị Duyên số tiền cải tạo đất và lúa giống 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
  4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn T đòi ông Trần Hữu P trả số tiền thuê đất 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm:
    • + Ông Trần Hữu P được miễn án phí sơ thẩm.
    • + Anh Lê Tấn T phải nộp án phí sơ thẩm là 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003481 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Trần Hữu P không phải nộp án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Hòn Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Hoàng Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại

  • Số bản án: 115/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng thuê tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger