|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 12/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Anh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Kim Hoàn;
2. Bà Trần Thị Dinh;
Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Lĩnh- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hà Thị D; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/6/1979 tại thành phố L; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Độ s năm 1949 và bà Phạm Thị Q (đã chết); Bị cáo có chồng là Hà Văn T sinh năm 1977; Bị cáo có 01 con sinh năm 1996;Tiền án: Không;Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/5/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt tại phiên tòa.
2. Lò Văn C Tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/5/1996 tại T, Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Khá, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn B sinh năm 1976 và bà Hoàng Thị L sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt tại phiên tòa.
3. Hoàng Văn T1; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 11/9/1990 tại thành phố L; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T2 sinh năm 1964 và bà La Thị T3 sinh năm 1962; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không;Tiền sự: Không; Về nhân thân: Có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/5/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 20 phút ngày 08/5/2024, tại khu vực đường liên thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai phát hiện Lò Văn C, sinh năm 1996, trú tại Bản Khá, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu điều khiển xe mô tô 24K6-9284 chở Hoàng Văn T1, sinh năm 1990, trú tại Thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì phát hiện Hoàng Văn C1 đang cầm trên tay 01 gói nilon màu hồng thả xuống đường. Hoàng Văn T1 đã tự nguyện nhặt gói ma túy lên và khai nhận nhận là ma túy Heroine vừa mua của Hà Thị D ở khu vực thôn M, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hà Thị D sinh năm 1979, trú tại thôn M, xã T, thành phố L thu giữ : 01 cân điện tử màu đen, 01 cuộn giấy bạc; 04 mảnh giấy bạc và 02 con dao lam đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động NOKIA có gắn thẻ sim; 01 điện thoại di động Redmi có gắn thẻ sim; 01 điện thoại di động Vsmart bên trong có gắn thẻ sim và số tiền 380.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 20 giờ ngày 07/5/2024, bị cáo Hà Thị D đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma tuý về bán kiếm lời. Bị cáo D1 mua của một người nam giới không quen biết ở khu vực cầu chui dân sinh đường C - Lào Cai được 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng và mang về nhà chia thành hai phần và gói lại bằng giấy bạc màu trắng rồi bọc lại bằng một lớp nilon màu hồng và cất trên mặt bàn bếp ga trong bếp.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 08/05/2024, bị cáo Lò Văn C và Hoàng Văn T1 cùng ở lán thợ xây thuộc khu đô thị K, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị cáo Lò Văn C nảy sinh ý định bảo bị cáo Hoàng Văn T1 cùng mua ma túy H về sử dụng và thống nhất góp tiền để mua chung, C đưa cho T1 400.000 đồng, T1 bỏ ra 200.000 đồng để mua ma túy. Sau đó bị cáo C bảo bị cáo T1 gọi điện thoại cho bị cáo Hà Thị D để hỏi mua ma túy. Bị cáo C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K6 - 9284 chở bị cáo T1 đến nhà D để mua ma túy. Khi đến nhà của bị cáo D, bị cáo C đỗ xe ở ngoài cổng, bị cáo T1 đi vào gặp bị cáo D mua được 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa ma túy heroine với giá 600.000 đồng. Bị cáo T1 cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái, bị cáo C chở bị cáo T1 đi về đến đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định và Tại Bản Kết luận giám định số 197/KL-GĐMT ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số ma túy đã thu giữ có tổng khối lượng là 0,359 gam là chất ma túy Heroine.
Cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Hà Thị D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Lò Văn C và Hoàng Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Hà Thị D, Lò Văn C, Hoàng Văn T1 về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Thị D từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Hà Thị D, Lò Văn C, Hoàng Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Ngày 07/5/2024 bị cáo Hà Thị D đã có hành vi mua ma túy theo kết luận giám định tổng khối lượng ma túy bị cáo đã mua là 0,359gam heroine mục đích về để bán kiếm lời. Ngày 08/5/2024 các Bị cáo Lò Văn C và Hoàng Văn T1 đã có hành vi mua số ma túy trên của bị cáo Hà Thị D có khối lượng là 0,359 gam là heroine mục đích cùng nhau sử dụng.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hà Thị D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Lò Văn C, Hoàng Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.
[3] Về hình phạt:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội xử phạt các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.
Bị cáo Lò Văn C và Hoàng Văn T1 là đồng phạm nhưng tính chất giản đơn. Bị cáo Lò Văn C và Hoàng Văn T1 cùng nhau góp tiền và cùng nhau đi mua ma túy. Bị cáo Lò Văn C là người khởi xướng việc đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo Hoàng Văn
T1 là giữ vai trò thực hành tích cực, là người trực tiếp trao đổi mua bán ma túy với bị cáo Hà Thị D. Các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ 0,359gam heroine.
[4] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên bị cáo Lò Văn C, Hoàng Văn T1 đều có nhân thân xấu, là các đối tượng nghiện ma túy, riêng bị cáo Hoàng Văn T1 năm 2020 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Lào cai xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, án phạt 01 tù giam, tính đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo Hà Thị D có bố đẻ là ông Hà Văn Đ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và nhiều huy chương, kỷ niệm chương khác. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo D là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo Hà Thị D, Lò Văn C, Hoàng Văn T1 không có tài sản riêng, không có thu nhập vì vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau trích mẫu giám định, xét thấy heroin là thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI1:864267044046373 có găn 02 thẻ sim tạm giữ của bị cáo Hoàng Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số seri 358530921498055 có gắn 02 thẻ sim thu giữ của bị cáo Hà Thị D, các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, do vậy cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp;
Đối với 01 cân điện tử, 04 mảnh giấy bạc, 02 con dao lam, 01 cuộn giấy bạc không có giá trị sử dụng, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với số tiền tạm giữ của Hà Thị D là 380.000 đồng, xét thấy, bị cáo bán ma túy được 600.000 đồng, bị cáo tiêu xài hết 220.000 đồng, còn lại 380.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước, số tiền còn lại là 220.000 đồng cần tiếp tục truy thu để nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số Imei 867469059053305 có gắn 01 thẻ sim tạm giữ của Hà Thị D không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành các khoản thu nộp Ngân sách nhà nước nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hà Thị D vào ngày 07/5/2024 ở khu vực cống chui đường C - Lào Cai thuộc khu vực thôn M, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, xét thấy là phù hợp.
Đối với một xe mô tô BKS 24K6-9284 là tài sản của anh Nguyễn Kim P, địa chỉ tổ A, phường K, thành phố L. Anh P là chủ cai công trình xây dựng. Ngày
08/5/2024 Lò Văn C lấy xe máy của anh P để đi mua ma túy, anh P không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý xét thấy là phù hợp.
Đối 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart thu giữ tại nhà của bị cáo Hà Thị D. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên là của anh Hà Văn T là chồng của bị cáo D. Chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên không đề cập xử lý, xét thấy là phù hợp.
[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo Lò Văn C, Hoàng Văn T1 xét thấy là phù hợp. Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Hà Thị D còn cao, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần có mức hình phạt phù hợp hơn.
[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hà Thị D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn C, Hoàng Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08/5/2024.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 08/5/2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư của Phòng K Công an tỉnh L một mặt có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn C, Hoàng Văn T1 ngày 08/5/2024 tại C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai bên trong có: 0,288 gam chất ma túy Heroine hoàn lại sau trích mẫu giám định được cho riêng vào từng túi nilon, đựng mẫu ghi ký hiệu bên ngoài là M1, M2 cùng: 01 mảnh giấy nilon màu hồng; 02 mảnh giấy bạc màu trắng và bì niêm phong ban đầu gửi giám định. Trên mặt tại mép dán của bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên 04 người và 02 dấu thu nhỏ của Phòng K Công an tỉnh L và được dán kín bằng lớp băng dính trong suốt.
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI1:864267044046373 có gắn 02 thẻ sim (đã qua sử dụng, màn hình nứt vỡ, thân vỏ trầy xước) tạm giữ của bị cáo Hoàng Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, số seri 358530921498055 có gắn 02 thẻ sim (đã qua sử dụng)
Tịch thu tiêu hủy: 01 cân điện tử, 04 mảnh giấy bạc, 02 con dao lam, 01 cuộn giấy bạc;
Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số Imei 867469059053305 có gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) tạm giữ của Hà Thị D để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L);
Tịch thu số tiền 380.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước (Theo giấy nộp tiền ngày 21/6/2024 nộp vào tài khoản số 3949.0.9049863 của Công an thành phố L tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai). Truy thu số tiền 220.000 đồng của bị cáo Hà Thị D nộp Ngân sách nhà nước.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN |
|
T4 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị A |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thị D bị VKS truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo k1 điều 251 BLHS; Lò văn C và Hoàng Văn T bị VKS truy tố về tội 'Tàng trữ tái phép chất ma túy" Theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS
