TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HS-ST
Ngày: 12/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Văn Nam;
- 2/ Bà Hoàng Thị An- Giáo viên hưu trí;
- - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Luân - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/QĐST-HS ngày 04/5/2024, quyết định hoãn phiên toà số 12/2024/QĐST-HPT ngày 21/5/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Nguyễn Kiêm D, sinh ngày 07/10/2007 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Bố đẻ: Nguyễn Kiêm Đ, sinh năm: 1977, làm ruộng; Mẹ đẻ: Đào Thị N, sinh năm: 1986, lao động tự do; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Họ tên: Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 17/02/2007 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm: không rõ; Làm ruộng; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1964 (Còn sống); Nghề nghiệp: Làm ruộng; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú
3. Họ tên: Nguyễn Kim H1, sinh ngày 09/8/2005 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Kim H2, sinh năm: 1984, làm ruộng; Mẹ đẻ: Đặng Thị T1, sinh năm: 1984, làm ruộng; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú
4. Họ tên: Lê Anh H3, sinh ngày 18/12/2004 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 11/12; Bố đẻ: Lê Đăng H4, sinh năm: 1982, làm ruộng; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị K, sinh năm: 1984, lao động tự do; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú
5. Họ tên: Đặng Quang L, sinh ngày 10/7/2007 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 11/12; Bố đẻ: Đặng Quang C (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969, lao động tự do; bị cáo là con duy nhất trong gia đình;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Họ tên: Nguyễn Huy K1, sinh ngày 23/11/2004, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/12; Bố đẻ: Nguyễn Huy D1, sinh năm: 1982; Mẹ đẻ: Đặng Thị O; sinh năm: 1984; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú
7. Họ tên: Tạ Quang T3, sinh ngày 10/6/2006, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Bố đẻ: Tạ Quang N1, sinh năm 1983, lao động tự do; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
8. Họ tên: Bùi Tuấn H5, sinh ngày 27/5/2007, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 11/12; Bố đẻ: Bùi Văn H6, sinh năm 1982; Mẹ đẻ: Trần Thị H7, sinh năm 1987; Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án tiền sự: Không;
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
9. Họ tên: Trần Trường G, sinh ngày 20/4/2006, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Bố đẻ: Trần Đức M, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: Phan Thị H8, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/10/2023, Trần Trường G bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M khởi tố bị can về tội Gây rối trật tự công cộng theo quyết định khởi tố bị can số 388 ngày 18/10/2023 của Công an huyện M, thành phố Hà Nội.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 24/01/2024.
10. Họ tên: Lê Quang T4, sinh ngày 20/4/2005, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, M, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Bố đẻ: Lê Văn C1, sinh năm 1976; Mẹ đẻ: Lê Thị V, sinh năm 1980; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3;
Tiền án tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Các bị cáo Q1, D, L, G, T4, H3, K1, H1, T3 có mặt tại phiên tòa. Riêng Bị cáo H5 bị tai nạn, nằm viện nên có đơn xét xử vắng mặt.
1/Người bị hại: Anh Nguyễn Văn N2, sinh ngày 23/6/2006; cư trú tại: Khu G, T, Đ, M, Hà Nội.
Người đại diện của anh Nguyễn Văn N2: Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1983; cư trú tại: Khu G, T, Đ, M, Hà Nội.
2/ Người đại diện của bị cáo:
Người đại diện hợp pháp của bị cáo D: Bà Đào Thị Ánh N3, sinh năm 1986; cư trú tại: Thôn B H, M, M, Đ, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Q1: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; cư trú tại: Xóm C, Thôn C, H, M, M, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo L: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; cư trú tại: Thôn D, H, M, M, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo T3: Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1959 – Người giám hộ; cư trú tại Thôn D, H, M, M, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo G: Bà Phan Thị H8, sinh năm 1970; cư trú tại: P, T, M, Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo H5: Ông Bùi Văn H6, sinh năm 1982; cư trú tại: Đ, Tráng V, M, Hà Nội.
Những người đại diện của các bị cáo đều có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Chu Thị T6, ông Nguyễn Văn T7, ông Nguyễn Văn L1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H.
3/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Nguyễn Duy Thái A1, sinh năm 2008; cư trú tại: Thôn C, H, M, M, Đ, Hà Nội.
- - Nguyễn Huy V1, sinh ngày 24/11/2007; cư trú tại: Thôn D, H, M, M, Hà Nội (vắng mặt).
- - Người đại diện của Nguyễn Văn L2: Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1979; cư trú tại: L, M, M, Hà Nội (có mặt).
Người đại diện của Nguyễn Duy Thái A1: Ông Nguyễn Duy B, sinh năm 1985; cư trú tại: Thôn C, H, M, M, Hà Nội (vắng mặt).
- Người đại diện của Nguyễn Huy V1: Ông Nguyễn Huy T8, sinh năm 1982; cư trú tại: Thôn D, H, M, M, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Khoảng 23h30' ngày 14/10/2023, Nguyễn Kiêm D cùng Đặng Quang L, Nguyễn Văn L2, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Huy V1 (Sinh ngày: 24/11/2007; trú tại: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội), Tạ Quang T3, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Duy Thái A1 (Sinh ngày: 30/8/2008; trú tại: Thôn H, xã M, huyện M, Hà Nội), Trần Trường G, Bùi Tuấn H5, Lê Quang T4, Nguyễn Kim H1 tập trung tại khu vực Ao sen thôn H, xã M, huyện M nói chuyện. Tại đây Nguyễn Kiêm D nói với cả nhóm về việc D bị nhóm thanh niên ở khu vực Đ đuổi đánh và rủ cả bọn mang sang khu vực Đ tìm gặp những nhóm thanh niên đi xe máy trên đường là sẽ đánh và chém, cả bọn đồng ý. Sau đó, Thái A1 đi về nhà lấy 01 con dao phay khoảng 40cm tự chế, Q bảo Quang L về nhà lấy 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 80cm, bản rộng 3cm, chuôi bằng sắt quấn dây cao su còn Quí chuẩn bị 01 gậy ba khúc làm hung khí đi đánh nhau.
Sau khi chuẩn bị xong hung khí thì Nguyễn Huy K1 chở Nguyễn Kiêm D cầm theo 01 dao phay tự chế, Nguyễn Huy V1 chở Nguyễn Duy Thái A1 cầm theo 01 kiếm, Nguyễn Ngọc Q chở Nguyễn Kim H1, Trần Trường G chở Lê Quang T4, Tạ Quang T3 đi một mình một xe, Nguyễn Văn L2 đi một mình một xe, Lê Anh H3 chở Đặng Quang L cầm theo 01 gậy ba khúc, Bùi Tuấn H5 đi một mình một xe, tất cả xuất phát đi theo xe của K1 từ khu vực bãi X, thôn H, xã M đi hướng đường A M, qua xã T ra đường V hướng khu công nghiệp B rồi đi qua vòng xuyến khu công nghiệp rẽ lên đường H để tìm nhóm thanh niên đã đánh D. Trên đường đi, cả bọn cất giấu hung khí để tránh bị phát hiện. Khi đi đến khu vực nhà máy B1 thuộc xã T thì Quang L đưa côn ba khúc cho T3 cầm. Cả nhóm đi hết cầu vượt K (thuộc địa phận xã K, Đ hướng lên ngã tư Đ) thì phát hiện 1 nhóm thanh niên (không quen biết) đi khoảng 6 xe máy (chở hai) thì D nói “nhóm kia đánh tao” nên cả nhóm đuổi theo để đánh. Nhóm thanh niên đi đến ngã tư (nút giao thông đèn xanh, đỏ) thì vòng xe sang làn bên cạnh đi về hướng cầu vượt K bỏ chạy. Xe của Thái A1, H5, H1 và Văn L2 tiếp tục đuổi theo. Còn xe máy của K1 chở D, xe T4 chở G, xe
H3 chở Quang L và xe H1 chở Q thấy phía trước còn có 02 xe máy gồm các anh: Phạm Hữu Minh Q2 chở Nguyễn Văn N2, Trần Đức D2 chở Đào Đức T9 nên nhóm của D chạy áp sát. Khi xe của K1 chở D áp sát cạnh xe của anh Q2 chở anh N2 thì D cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát vào cánh tay trái của N2. Nhóm của anh N2 dừng lại thì các đối tượng điều khiển xe quay lại vị trí nhóm của anh N2. Tại đây, Q chửi nhóm của anh N2 còn H1, Quang L định lao vào đánh tiếp thì nhận ra nhóm của anh N2 là người quen nên dừng lại, không đánh nữa. Các đối tượng cùng nhau di chuyển về khu vực thôn H, trên đường đi D vứt bỏ con dao xuống ven đường (không xác định được vị trí), cả bọn nói chuyện về việc D chém gây thương tích cho anh N2 sau đó giải tán đi về nhà. Anh N2 được đưa đến Bệnh viện H9 cấp cứu rồi chuyển Bệnh viện Đ2, tỉnh Vĩnh Phúc điều trị. Cùng ngày chị Nguyễn Thị T5 (mẹ của anh N2) đến Công an huyện Đ trình báo, đề nghị xử lý các đối tượng đã đánh anh N2 theo quy định của pháp luật.
* Vật chứng tạm giữ của Đặng Quang L: 01 thanh kiếm bằng kim loại lưỡi kiếm dài 62cm, chuôi kiếm bằng kim loại được quấn vải màu đen dài 29cm.
* Đối với thương tích của anh Nguyễn Văn N2:
Tại Trích sao bệnh án của Bệnh viện H9 xác định: Vết thương mặt sau khuỷu trái 6x2cm, đi ngang từ lồi cầu ngoài tới lồi cầu trong cánh tay, bờ gọn, gãy mỏm khuỷu, đứt hoàn toàn cơ tam đầu, thần kinh trụ không tổn thương. Tiến hành cắt lọc, găm Kiêm néo ép mỏm khuỷu, khâu nối gân tam đầu.
Tại bệnh án của Bệnh viện Đ2, tỉnh Vĩnh Phúc xác định: Sau phẫu thuật vết thương khuỷu tay trái, gãy mõm khuỷu, đứt cơ tam đầu ngày thứ 3;
Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 1699 ngày 22/11/2023 của Trung tâm P kết luận:
- - Vết thương vết mổ khuỷu tay trái: 3%;
- - Gãy mỏm khuỷu trái đã mổ kết hợp xương: 10%;
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Nguyễn Văn N2 là 13%. Cơ chế hình thành thương tích do vật có cạnh sắc gây ra. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến chứng, mức độ hạn chế vận động khuỷu tay trái, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định và tháo bỏ phương tiện kết hợp xương.
Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Văn N2 nhất trí và không có ý kiến gì về kết luận giám định tổn thương cơ thể. Anh N2 không đề nghị được giám định bổ sung đối với thương tích của anh N2.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo: Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 khai nhận hành vi như trên phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.
Đối với hành vi tụ tập điều khiển xe máy đi trên đường của các đối tượng, kết quả điều tra xác định: Các đối tượng điều khiển xe máy không lạng lách đánh võng, không bấm còi, không hô hào cổ vũ. Trên đường đi các đối tượng đều cất giấu hung khí để tránh bị phát hiện. Kết quả xác minh tại các địa phương nơi có tuyến đường các đối tượng di chuyển đều không nhận được thông tin liên quan, không ảnh hưởng tới người tham gia giao thông, không ảnh hưởng tới khu dân cư nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với 01 côn ba khúc và 01 con dao phay khoảng 40cm tự chế là hung khí các đối tượng sử dụng để mang đi đánh nhau sau đó đã vứt đi, không nhớ vị trí. Cơ quan điều tra đã tổ chức rà soát, truy tìm nhưng không thu giữ được.
Đối với Nguyễn Văn L2, quá trình điều tra giải quyết vụ án Nguyễn Văn L2 chết vào ngày 02/4/2024. Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Văn L2.
Đối tượng Nguyễn Duy Thái A1 và Nguyễn Ngọc V2 (thời điểm thực hiện hành vi vi phạm dưới 16 tuổi) nên không cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ đã lập hồ sơ đề nghị chính quyền địa phương xử lý đối với A1 và V2 theo quy định.
Đối với 01 thanh kiếm bằng kim loại lưỡi kiếm dài 62cm, chuôi kiếm dài 29cm tạm giữ của Đặng Quang L là hung khí các đối tượng sử dụng thực hiện hành vi vi phạm do vậy chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để giải quyết theo thẩm quyền.
Về dân sự: Anh Nguyễn Văn N2 và chị Nguyễn Thị T5 yêu cầu các đối tượng phải bồi thường tổng số tiền là 80.000.000đồng gồm: Tiền viện phí là 9.247.000đ, tiền mua thuốc điều trị là 6.000.000đ, tiền mất thu nhập 01 tháng của chị T5 phải nghỉ việc để chăm sóc cho ang N2 là 15.000.000đ và số tiền còn lại là bồi thường về tinh thần và tiên sau này anh N2 phải phẫu thuật lại.
Bản Cáo trạng số 84/CT-VKSĐA ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh quyết định truy tố:
- Bị cáo: Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1,Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 có lý lịch như đã nêu trên về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo thừa nhận: Do Nguyễn Kiêm D nói bị nhóm thanh niên Đông A2 đánh nên khi được D rủ cả nhóm đi lên Đông A2 tìm nhóm đã đánh D để đánh lại các bị cáo đã nhất trí hưởng ứng đi theo D đánh nhau. Bị cáo H5 vắng mặt tại phiên toà, lời khai của bị cáo H5 tại cơ quan điều tra được Chủ toạ phiên tòa công bố phù hợp với lời khai của các bị cáo khác. Các bị cáo đều hiểu là đi đánh nhau có thể sẽ gây thương tích cho người khác nhưng đều nhất trí theo D. Vào khoảng 01 giờ ngày 15/10/2023, các bị cáo di chuyển từ huyện M đến cầu vượt K (thuộc địa phận xã K, Đ hướng lên ngã tư Đ) thì Nguyễn Kiêm D phát hiện ra nhóm 06 xe máy, trên mỗi xe có hai người. D nói rằng nhóm đó đánh mình nên cả nhóm đuổi theo thì nhóm 6 xe máy bỏ chạy. Lúc này nhóm của D tách ra làm hai, một nhóm gồm Văn L2, H5, H1, Thái A1 đổi theo nhóm 6 xe máy. Còn nhóm xe K1 chở D, T4 chở G, H3 chở Quang L thấy phía trước có 02 xe máy gồm Nguyễn Minh Q3 chở anh Nguyễn Văn N2, anh Trần Đức D2 chở anh Đào Đức T9 trên đường đi làm về. Nhóm của D đã áp sát, khi xe máy của K1 áp sát xe anh N2 thì D cầm dao phay tự chế bằng tay phải chém một nhát vào cánh tay trái của anh N2 gây thương tích cho anh N2 13%.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo, khẳng định hành vi của các bị cáo: Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 có lý lịch như đã nêu trên về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng Đ1 đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, điều 91, điều 98, điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Kiêm D: 24-27 tháng tù.
- - Áp dụng Đ1 đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 điều 54, Điều 91, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Trường G: 15-18 tháng tù.
- - Áp dụng Đ1 đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 65, điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- +Bùi Tuấn H5: 18-20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 36-40 tháng.
- + Tạ Quang T3: 13-16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 26-32 tháng.
- + Nguyễn Ngọc Q: 16-19 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 32-38 tháng.
- + Đặng Quang L: 16-19 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 32-38 tháng.
- - Áp dụng Đ1 đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Lê Anh H3: 24-26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48-52 tháng.
- Nguyễn Huy K1: 24-26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48-52 tháng.
- - Áp dụng Đ1 đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- + Lê Quang T4: 21-24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 42-48 tháng.
- + Nguyễn Kim H1: 21-24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 42-48 tháng.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Vật chứng gồm: 01 thanh kiếm bằng kim loại lưỡi kiếm dài 62cm, chuôi kiếm bằng kim loại được quấn vải màu đen dài 29cm.
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Kiêm D, Nguyễn Ngọc Q, Đặng Quang L, Tạ Quang T3, Bùi Tuấn H5 Trần Trường G đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết: Bị cáo và gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả theo Điểm b khoản 1 Điều 51; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51, Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị hại và đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; để cho tất cả các bị cáo được hưởng án treo. Riêng các bị cáo Đặng Quang L, Nguyễn Huy K1, Trần Trường G đều là con em trong gia đình có cũng là tình tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ thêm cho hai bị cáo này.
Bị hại và đại diện theo pháp luật của bị hại tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho tất cả các bị cáo.
Về dân sự: Bị hại và đại diện bị hại đều khẳng định đã nhận được toàn bộ tiền bồi thường và khẳng định về dân sự, bị cáo và gia đình các bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường. Bị hại, đại diện bị hai không yêu cầu bồi thường về dân sự đối với các bị cáo, không yêu cầu dân sự đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.
[2] Về hành vi và tội danh: Vào khoảng 01 giờ ngày 15/10/2023, tại cầu vượt K (thuộc địa phận xã K, Đ hướng lên ngã tư Đ), Nguyễn Kiêm D đã rủ các đồng phạm là Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1 và Lê Quang Trường Nguyễn Duy Thái A3, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Ngọc V2 đã có hành vi gây thương tích cho bị hại Nguyễn Văn N2, gây thương tích, tổn hại sức khỏe là 13%. Bị cáo D trực tiếp thực hiện hành vi đã sử dụng dao phay tự chế bằng kim loại chém anh Nguyễn Văn N2. Các đồng phạm của D tuy không trực tiếp thực hiện hành vi chém anh N2 nhưng đã tiếp nhận ý chí của D, cùng nhau, đèo nhau bằng xe máy di chuyển trên đường, mục đích tìm kiếm các nhóm thanh niên tụ tập giống nhóm mình để đánh: Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1,Lê Quang T4, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Duy Thái A3, Nguyễn Ngọc V2 đồng phạm giúp sức, cổ vũ, động viên tinh thần để Duy thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Văn N2.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điểm d, khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, bị can Nguyễn Văn L2, chết vào ngày 02/4/2024. Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Văn L2. Đối tượng Nguyễn Duy Thái A3 và Nguyễn Ngọc V2 (thời điểm thực hiện hành vi vi phạm dưới 16 tuổi) nên không cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ đã lập hồ sơ đề nghị chính quyền địa phương xử lý đối với A3 và V2 theo quy định. Việc đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Văn L2 và lập hồ sơ đề nghị chính quyền địa phương xử lý đối với Nguyễn Duy Thái A3 và Nguyễn Ngọc V2 là có căn cứ.
Về hành vi tụ tập điều khiển xe máy đi trên đường của các bị cáo và đồng phạm, kết quả điều tra xác định: Các đối tượng điều khiển xe máy không lạng lách đánh võng, không bấm còi, không hô hào cổ vũ. Trên đường đi, các đối tượng đều cất giấu kín hung khí trên xe nên không bị phát hiện. Kết quả xác minh tại các địa phương nơi có tuyến đường các đối tượng di chuyển đều không nhận được thông tin liên quan, không ảnh hưởng tới người tham gia giao thông, không ảnh hưởng tới khu dân cư nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng là có căn cứ.
[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự của các bị cáo:
- - Về Tiền án, tiền sự: Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 không có tiền án, tiền sự; nhân thân các bị cáo chưa bị xử lý bằng pháp luật nên được coi là có nhân thân tốt.
Đối với bị cáo Trần Trường G không có tiền án, tiền sự nhưng xét về nhân thân bị cáo G thấy: Vào ngày 18/10/2023, bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M khởi tố bị can về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, trong thời gian điều tra, Trần Trường G tiếp tục vi phạm pháp luật và bị Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ áp dụng biện pháp ngăn chặn là “tạm giam”, xác định bị cáo G có nhân thân xấu.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy, khi lượng hình, Tòa án xem xét từng tình tiết để tuyên mức hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:
Toàn bộ các bị cáo Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1,Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 đều được hưởng tình tiết tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả theo Điểm b khoản 1 Điều 51; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51, bị hại và đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Riêng các bị cáo Đặng Quang L, Nguyễn Huy K1, Trần Trường G đều là con em gia đình có công với Nước nên có thêm tình tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (Bị cáo Đặng Quang L có ông nội là người có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo Trần Trường G có cụ nội là liệt sĩ, bản thân gia đình bị cáo đang thờ cúng Liệt sĩ Trần Văn S; Bị cáo Nguyễn Huy K1 có ông nội là liệt sĩ, hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước) cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử giảm nhẹ thêm hình phạt cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Kiêm D, Nguyễn Ngọc Q, Đặng Quang L, Tạ Quang T3, Bùi Tuấn H5 Trần Trường G đều phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại Điều 91 của Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để giảm mức hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo phải chịu hình phạt bằng ¼ mức hình phạt tuyên đối với người đã thành niên (Cụ thể: Nguyễn Kiêm D, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 16 tuổi 08 ngày; Nguyễn Ngọc Q, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 16 tuổi 7 tháng 28 ngày; Đặng Quang L, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 16 tuổi 3 tháng 05 ngày; Tạ Quang T3, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 17 tuổi 4 tháng 05 ngày; Bùi Tuấn H5, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 16 tuổi 4 tháng 18 ngày; Trần Trường G, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 17 tuổi 5 tháng 25 ngày).
Đối với các bị cáo: Nguyễn Kim H1, Nguyễn Huy K1, Lê Quang T4, Lê Anh H3 khi phạm tội đều đã thành niên nên phải chịu hình phạt theo quy định chung đối với người đã thành niên phạm tội.
Phân hoá vai trò từng bị cáo: Bị cáo Nguyễn Kiêm D là đầu vụ, là người trực tiếp thực hiện hành vi gây thương tích cho anh N2 là người khởi xướng việc phạm tội nên xác định vai trò của bị cáo D là cao nhất trong vụ án. Bị cáo Đặng Quang L là người trực tiếp chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội nên đánh giá vai trò bị cáo cao hơn so với các đồng phạm giúp sức khác. Các bị cáo còn lại có vai trò đồng phạm giúp sức, đi theo cổ vũ, động viên tinh thần để bị cáo Duy thực h tội phạm nên có vai trò thứ yếu trong vụ án.
Xác định đây là vụ đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, hành vi bộc phát, không có sự phân công vai trò chặt chẽ giữa các bị cáo.
[5] Về hình phạt: Về cân nhắc mức hình phạt để có tính răn đe và giáo dục chung.
Đối với Phạm Kiêm D3, bị cáo có vai trò đầu vụ, khởi xướng việc phạm tội, là người trực tiếp cầm dao chém anh N2 gây thương tích. Bị cáo G do trước đó đã có hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cơ quan điều tra công an huyện M khởi tố bị can, nhưng không tu dưỡng, tiếp tục tham gia vụ việc phạm tội mới, xác định là có nhân thân xấu, nên bị cáo D3 và bị cáo G phải chịu hình phạt tù có thời hạn theo điều 38 Bộ luật hình sự tương ứng với hành vi phạm tội.
Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, xử phạt các bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội cũng đủ răn đe giáo dục đối với các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Đối với các bị cáo chưa thành niên không áp dụng hình phạt tiền. Đối với các bị cáo đã thành niên nhưng không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6] Về dân sự: Bị hại và đại diện bị hại không yêu cầu về dân sự do đã nhận tiền bồi thường. Phần dân sự đã giải quyết xong nên không xét.
[7] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: Vật chứng gồm: 01 thanh kiếm bằng kim loại lưỡi kiếm dài 62cm, chuôi kiếm bằng kim loại được quấn vải màu đen dài 29cm.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Kiêm D, Đặng Quang L, Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Ngọc Q, Trần Trường G, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1 và Lê Quang T4 phạm tội cố ý gây thương tích.
- - Áp dụng chung đối với tất cả bị cáo:
- + Điểm đ Khoản 2 Điều 134, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.
- + Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự;
- + Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
- - Áp dụng thêm Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Kiêm D, Trần Trường G;
- - Áp dụng thêm điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Tuấn H5, Tạ Quang T3, Nguyễn Ngọc Q, Đặng Quang L:
- - Áp dụng thêm điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Anh H3, Lê Quang T4, Nguyễn Huy K1, Nguyễn Kim H1
Xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Kiêm D 20 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Bị cáo Trần Trường G 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024;
- - Bị cáo Bùi Tuấn H5 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án;
- - Bị cáo Tạ Quang T3 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án;
- - Bị cáo Nguyễn Ngọc Q 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án;
- - Bị cáo Đặng Quang L 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng kể từ ngày tuyên án;
- - Bị cáo Lê Anh H3 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Bị cáo Lê Quang T4 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Bị cáo Nguyễn Huy K1 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án.
- - Bị cáo Nguyễn Kim H1 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Bùi Tuấn H5 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Giao các bị cáo Lê Quang T4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Giao các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Đặng Quang L, Nguyễn Huy K1, Tạ Quang T3, Lê Anh H3, Nguyễn Kim H1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Vật chứng gồm: 01 thanh kiếm bằng kim loại lưỡi kiếm dài 62cm, chuôi kiếm bằng kim loại được quấn vải màu đen dài 29cm.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện của bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo Bùi Tuấn H5 được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán Triệu Thúy Hà |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo: Nguyễn Kiêm Duy, Đặng Quang Long, Bùi Tuấn Hưng, Tạ Quang Tài, Lê Anh Huy, Nguyễn Ngọc Quí, Trần Trường Giang, Nguyễn Huy Khải, Nguyễn Kim Hiếu và Lê Quang Trường phạm tội Cố ý gây thương tích theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS 2015
