Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN,

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 10-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Đông.
  2. Ông Hồ Đắc Toàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng T (tên gọi khác: Bo); sinh ngày 21-6-2002 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trần S và bà Hoàng Thị Lệ T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 01-02-2024 đến nay; có mặt.
  2. Nguyễn Văn Q; sinh ngày 10-3-1980 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Võ Thị N (chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Lê Văn L; sinh năm 1962; nơi cư trú: Số nhà G, đường T, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  2. Chị Đỗ Thị Thanh H; sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ C, khu phố F, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Minh T2; sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, khu phố C, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Huỳnh Văn T3; sinh năm 2003; nơi cư trú: Số nhà B, đường H, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  2. Thới Gia N1; sinh năm 2004; nơi cư trú: Số nhà C, đường N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  3. Trương Võ Quốc T4; sinh năm 2004; nơi cư trú: Tổ B, khu phố D, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  4. Nguyễn Phan Thanh H1; sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  5. Nguyễn Tấn T5; sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ B, khu phố E, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
  6. Nguyễn Trung N2; sinh năm 2001; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
  7. Trần Thu Thanh N3; sinh năm 1989; nơi cư trú: Số nhà D, đường L, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
  8. Trần Thị Ngọc T6; sinh năm 1994; nơi cư trú: Số nhà C, đường L, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài, Nguyễn Hoàng T nảy sinh ý định lợi dụng sự sơ hở của người dân để lén lút chiếm đoạt tài sản. Từ ngày 04-11-2023 đến ngày 10-01-2024, T đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Q. Cụ thể:

- Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04-11-2023, T đi bộ vào hẻm S, đường T, thành phố Q, khi đi đến số nhà G phát hiện xe mô-tô hiệu Yamaha – Nozza, màu xanh, biển kiểm soát 77L1-870.36 của chị Đỗ Thị Thanh H dựng trước nhà, chìa khóa cắm sẵn trên xe, không có ai trông coi. T lén lút đến khởi động xe rồi điều khiển xe chạy đến đoạn gần đường ray tàu lửa thì dừng lại, lấy đồ trong cốp xe và bẻ 02 gương chiếu hậu vứt bỏ, còn lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô-tô thì giữ lại. Sau đó, T đi tìm nơi bán xe. Khi đi đến trước nhà số C, đường N, T gặp Huỳnh Văn T3, Thới Gia N1, Trương Võ Quốc T4 đang ngồi chơi. T đến gặp T3 nói dối là xe của chị T cho T, do đang cần tiền nên nhờ T3 đi tìm nơi bán xe thì T3 đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T3 dẫn T đến nhà Nguyễn Phan Thanh H1 ở số nhà A, đường T thì gặp H1 và Nguyễn Tấn T5. T nói dối với H1 và T5 là xe của chị T cho T sử dụng, có giấy tờ xe đầy đủ, do đang cần tiền nên bán. T5 và H1 tin tưởng nên T5 đồng ý mua và mượn tiền H1 mua với giá 5.500.000 đồng. Có được tiền, T tiêu xài hết. Khoảng 01 tuần sau, T liên hệ với H1 xin thêm tiền bán xe là 1.000.000 đồng. Huyền trao đổi với T5 thì T5 đồng ý chuyển khoản cho T thêm 1.000.000 đồng. Số tiền này T cũng tiêu xài hết.

Ngày 09-12-2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Nozza, màu xanh, biển kiểm soát 77L1-870.36 trị giá 9.000.000 đồng.

- Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04-12-2023, T đi ngang qua nhà số H, đường T, thành phố Q, thấy xe mô-tô hiệu Honda – AirBlade, màu đen bạc, biển kiểm soát 77F1-004.78 của bà Nguyễn Thị Minh T2 dựng trong sân nhà, chìa khóa cắm sẵn trên xe. Thấy không có ai trông coi, T đến lén mở cổng, dắt xe mô-tô ra ngoài, khởi động xe rời đi. Sau đó, T gọi điện nhờ Nguyễn Trung N2 tìm người bán xe. N2 đồng ý và hẹn gặp ở hồ S Đ để xem xe. Sau khi N2 thấy xe thì đồng ý tìm người mua xe và đưa trước cho T mượn số tiền 2.000.000 đồng; T giao xe cho N2 giữ và lấy tiền tiêu xài hết. Nguyên liên hệ với Trần Thu T7 N3 hỏi nhờ tìm người bán xe. N3 biết Trần Thị Ngọc T6 có nhu cầu mua xe sử dụng nên liên hệ với T6 thì T6 đồng ý mua với giá 4.000.000 đồng. N3 nhận được tiền từ T6 nhưng nói dối với N2 là bán xe với giá 3.500.000 đồng và đưa cho N2 3.500.000 đồng. Sau đó, N2 đưa lại thêm cho T số tiền 1.300.000 đồng, T cho N2 200.000 đồng để uống nước. Có được tiền T tiêu xài hết.

Ngày 15-3-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô-tô hiệu Honda – AirBlade, màu đen bạc, biển kiểm soát 77F1-004.78 trị giá 14.000.000 đồng.

- Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 10-01-2024, T đi dạo và phát hiện xe mô-tô hiệu Yamaha – Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 77L1-548.08 của ông Lê Văn L, trên xe có gắn chìa khóa, dựng trước số nhà G, đường T, thành phố Q, không có người trông coi. T lén lút khởi động xe rồi điều khiển xe rời đi. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11-01-2024, T điều khiển xe mô-tô 77L1-548.08 vào hẻm S, đường Đ, thành phố Q tìm người để bán xe. Thấy tiệm hớt tóc “Hiếu” ở số nhà C, đường Đ có Nguyễn Văn Q đang ngồi, T hỏi Q có mua xe mô-tô 77L1-548.08 không. Quí hỏi nguồn gốc xe và giấy tờ xe. T nói là xe do T trộm cắp mà có, không có giấy tờ xe. Quí biết xe do T trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua với giá 1.200.000 đồng. Số tiền này T tiêu xài hết.

Ngày 22-01-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 77L1-548.08 trị giá 10.900.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tạm giữ và trả lại 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Nozza cho chị Đỗ Thị Thanh H; tạm giữ và trả lại 01 01 xe mô-tô hiệu Honda – AirBlade cho bà Nguyễn Thị Minh T2; tạm giữ và trả lại 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Sirius cho ông Lê Văn L.

Về dân sự: Anh Nguyễn Tấn T5 yêu cầu T bồi thường 6.500.000 đồng nhưng T chưa bồi thường. Chị Đỗ Thị Thanh H, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Lê Văn L, chị Trần Thị Ngọc T6 không yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số 121/CT-VKSQN ngày 13-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của Cáo trạng và các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Tòa xử phạt nhẹ.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc theo như nội dung của Cáo trạng. Nguyễn Tấn T5 yêu cầu bị cáo Nguyễn Hoàng T hoàn trả số tiền 6.500.000 đồng; Nguyễn Trung N2 không có ý kiến, yêu cầu gì.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 12 – 18 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 03 – 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải bồi thường số tiền 6.500.000 đồng cho Nguyễn Tấn T5.

Về các khoản tiền do mua bán tài sản phạm tội mà có: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải giao nộp lại số tiền 4.500.000 đồng, Nguyễn Trung N2 phải giao nộp lại số tiền 200.000 đồng và Trần Thu T7 N3 phải giao nộp lại số tiền 500.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Văn Q thống nhất như luận tội của Kiểm sát viên, không có lời nào bào chữa hay tham gia tranh luận.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Văn Q nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai trái và xin Toà xem xét khoan hồng xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên về cơ bản bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại.

[2] Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Văn Q đều đã trên 18 tuổi, thực hiện các hành vi bị truy tố trong tình trạng không bị mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Bị cáo T đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản, nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của nhiều người trên địa bàn thành phố Q, cụ thể: Ngày 04-11-2023, T lén lút chiếm đoạt 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Nozza, màu xanh, biển kiểm soát 77L1-870.36, trị giá 9.000.000 đồng của chị Đỗ Thị Thanh H. Ngày 04-12-2023, T lén lút chiếm đoạt 01 xe mô-tô hiệu Honda – AirBlade, màu đen bạc, biển kiểm soát 77F1-004.78, trị giá 14.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Minh T2. Ngày 10-01-2024, T lén lút chiếm đoạt 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 77L1-548.08, trị giá 10.900.000 đồng của ông Lê Văn L. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 33.900.000 đồng. Các hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Bị cáo Q tuy không hứa hẹn trước nhưng đã mua 01 xe mô-tô hiệu Yamaha – Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 77L1-548.08, trị giá 10.900.000 đồng do bị cáo T trộm cắp được. Quí biết rõ tài sản này do T trộm cắp mà có nhưng vẫn giao dịch mua bán với T. Hành vi này của bị cáo Q đã đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có, có đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo Q là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo T tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng lang thang, không nơi cư trú, nghiện ngập ma túy, lười lao động, nhiều lần lấy trộm tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống chính, gây mất trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Điều đó cũng cho thấy bị cáo không thật sự ăn năn hối cải, nên dù bị cáo có khai báo thành khẩn cũng không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội. Do bị cáo không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Bị cáo Q tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng chỉ vì hám lợi mà bất chấp pháp luật, biết tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn mua, góp phần tiếp tay cho tội phạm, làm mất trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, cho nên cũng cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét việc bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Ngoài các lần phạm tội nêu trên, bị cáo T còn có lần trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, màu đen, dung lượng 32 Gb, trị giá 800.000 đồng của ông Hồ Thanh T8 vào ngày 13-01-2024. Xét giá trị tài sản chưa đủ mức cấu thành tội phạm, nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vi phạm đến Công an thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản là phù hợp.

[6] Trong vụ án này, Huỳnh Văn T3 có hành vi giới thiệu người mua xe mô-tô biển kiểm soát 77L1-870.36 cho bị cáo T; Nguyễn Tấn T5 có hành vi mua xe mô-tô; Nguyễn Phan Thanh H1 có hành vi cho T5 mượn tiền mua xe mô-tô nêu trên; nhưng T3, T5, H1 không biết xe mô-tô này do T phạm tội mà có nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nguyễn Trung N2 có hành vi giúp bị cáo T bán xe mô-tô biển kiểm soát 77F1-004.78; N2 đã liên hệ với Trần Thu Thanh N3 và N3 đã giới thiệu Trần Thị Ngọc T6 mua xe; T6 đã trả tiền để mua xe mô-tô biển kiểm soát 77F1-004.78; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã có Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 826/QĐ-CSHS ngày 12-4-2024 để xác minh làm rõ hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với các đối tượng này, nên cần tiếp tục điều tra, xử lý theo đúng quy định.

[7] Thông qua việc phạm tội, bị cáo T đã hưởng lợi từ việc bán 03 xe mô-tô do trộm cắp được với tổng số tiền là 11.000.000 đồng. Trong số tiền này, T đã nhận của Nguyễn Tấn T5 6.500.000 đồng, nhưng vì T5 không biết xe mô-tô do phạm tội mà có nên T phải hoàn trả cho T5 số tiền 6.500.000 đồng là phù hợp với Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 166 của Bộ luật Dân sự. Số tiền còn lại 4.500.000 đồng là khoản tiền hưởng lợi do mua bán tài sản phạm tội mà có, nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, cần buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Thông qua việc giới thiệu bán xe mô-tô biển kiểm soát 77F1-004.78, Trần Thu Thanh N3 đã hưởng lợi 500.000 đồng từ số tiền mua xe mà Trần Thị Ngọc T6 đã thanh toán, Nguyễn Trung N2 đã hưởng lợi 200.000 đồng từ số tiền mua bán xe đưa cho T. Xét thấy đây là các khoản tiền hưởng lợi do mua bán tài sản phạm tội mà có, nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, cần buộc N3, N2 phải nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra quyết định xử lý nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo T có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Tấn T5 số tiền mua bán xe mô-tô biển kiểm soát 77L1-870.36 là 6.500.000 đồng theo như nhận định trên.

[11] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự về cơ bản là phù hợp với nhận định nêu trên.

[12] Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T còn phải chị án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Hoàng T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 01-02-2024.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn Q 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

    Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp lại khoản tiền hưởng lợi do mua bán tài sản phạm tội mà có với số tiền là 4.500.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

    Buộc Trần Thu Thanh N3 phải nộp lại khoản tiền hưởng lợi do mua bán tài sản phạm tội mà có với số tiền là 500.000 đồng và Nguyễn Trung N2 phải nộp lại khoản tiền hưởng lợi do mua bán tài sản phạm tội mà có với số tiền là 200.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

  4. Áp dụng Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Tấn T5 số tiền mua bán xe mô-tô là 6.500.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  5. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

    Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 325.000 đồng.

  6. Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn;
  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Trần Duyên Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T phạm tội trộm cắp tài sản, Q phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger