|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 09/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Thanh;
- 2. Ông Bùi Vạn Huynh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2024/HSST ngày 06/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Lương Văn V, sinh ngày 29/6/1997; nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lương Văn L và bà Võ Thị V1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/02/2017, bị Công an phường N, thành phố Q xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 27/9/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 09/8/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 03 tháng tù “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
- Bị hại: Ông Võ Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Ông Võ Đình Q, sinh năm 1950; địa chỉ: Thôn C, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1.1] Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, Lương Văn V điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76K1-076.00 đi từ nhà đến địa bàn xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi với mục đích tìm nhà nào sơ hở đột nhập trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày, Lương Văn V đến hồ nuôi tôm của ông Võ Văn T. Tại đây, V phát hiện nhà của ông T không có người nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà ông T trộm cắp tài sản. V dựng xe mô tô, biển kiểm soát: 76K1-076.00 ngoài đường rồi đi bộ vào nhà ông T, thấy 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, dung lượng 128Gb, màu đen của ông T đang để trên bàn sắt ở nhà bếp, V lén lút lấy trộm chiếc điện thoại rồi bỏ đi. Khi V vừa đi ra đường thì bị ông T phát hiện, truy hô cùng với ông Nguyễn Văn C đang dọn cỏ hồ nuôi tôm ở gần đó bắt giữ V và trình báo Công an xã N.
[1.2] Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTXTSTTHS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Q kết luận như sau:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G 128GB, màu đen, IMEI1: 357260752759984, IMEI2: 357318872759985 (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 22/3/2024 trị giá 4.000.000 đồng;
- 01 (một) ốp lưng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, màu xanh, chất liệu nhựa (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 22/3/2024 trị giá 10.000 đồng.
[1.3] Đồ vật, tài liệu thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G 128GB, màu đen, IMEI1: 357260752759984, IMEI2: 357318872759985; 01 (một) ốp lưng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, màu xanh, chất liệu nhựa (đều đã qua sử dụng).
- 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 76K1-076.00, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, số máy: 5C6K194600, số khung: C6K0F194596 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
[2] Bản Cáo trạng số 78/CT-VKS-TPQN, ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lương Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng Khoản 1 Điều 173, các điểm h, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì điện thoại và ốp lưng điện thoại mà bị cáo V trộm cắp của ông T có giá trị 4.010.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo V đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Về phần dân sự: Ông Võ Văn T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- [6.1] 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G 128GB, màu đen, IMEI1: 357260752759984, IMEI2: 357318872759985; 01 (một) ốp lưng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 5G, màu xanh, chất liệu nhựa (đều đã qua sử dụng), đây là tài sản của ông T bị trộm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q đã trả lại cho ông T.
- [6.2] 01 xe mô tô, biển kiểm soát 76K1-076.00, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng đen, số máy: 5C6K194600, số khung: C6K0F194596 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong), đây là phương tiện bị cáo V dùng để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q chưa xác định được chủ sở hữu nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; riêng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại điểm h Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Lương Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lương Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2024.
- Bị cáo Lương Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng Ánh |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bc Vinh trộm điện thoại, bị bắt quả tang
