|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-PT Ngày 09 - 7 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương,
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.
Bà Trần Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLPT-HS ngày 13/5/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị L do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh năm 1969. Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/10; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.
Con ông Nguyễn Văn T ( đã chết);
Con bà Trần Thị H ( đã chết);
Chồng: Đỗ Đức H1, sinh năm 1963.
Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 2001;
Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L:
Ông Nguyễn Phương V và ông Nguyễn Văn K - Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư thành phố H (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà F, ngõ B V, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.
Bị hại:
Anh Vũ Văn H2, sinh năm 1983 ( Có mặt).
Địa chỉ: Số D, đường K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội.
Người làm chứng:
-
Anh Giáp Văn C, sinh năm 1984 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1998 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 1987 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Số D Cầu A, phường V, quận H, TP Hà Nội.
-
Anh Nguyễn Thế T3, sinh năm 1979 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội.
-
Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
-
Anh Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1982 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
-
Anh Lê Văn N, sinh năm 1986 ( Vắng mặt ).
Địa chỉ: Đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình Nguyễn Thị L có diện tích đất bị thu hồi theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang để thực hiện dự án khu dân cư S, thị trấn P, huyện L. Tuy nhiên, gia đình không đồng ý giao đất và nhận tiền bồi thường theo quy định của Nhà nước. Ngày 19/12/2022, Ủy ban nhân dân (UBND) huyện L tổ chức cưỡng chế, thu hồi diện tích đất để bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư là Công ty Cổ phần B (Công ty) thực hiện dự án. Sau khi nhận đất, Công ty đã thi công làm hàng rào chắn bằng tôn xung quanh để bảo vệ. Sáng ngày 09/5/2023, anh Vũ Văn H2 (là nhân viên của Công ty được giao nhiệm vụ quản lý thi công dự án) thuê anh C; anh T1 đến thi công sửa hàng rào chắn ở khu vực giáp nhà Nguyễn Thị L. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi anh C, anh T1 đang hàn hàng rào thì có các anh H2, anh Nguyễn Thành T2; anh T3 (là nhân viên của Công ty); anh T4; anh T5; anh N (là bảo vệ công trường) đến hỗ trợ làm hàng rào. Theo anh H2 khai khi mọi người đang làm được khoảng 10 phút thì L ra đứng trên đường chửi bới, ngăn cản không cho hàn nối hàng rào. Sau đó, Nguyễn Thị L cầm 01 chiếc liềm có lưỡi bằng kim loại cong dài 27cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm khua khoắng vào hàng rào ngăn cản, L tiếp tục cầm 01 hòn đá quăng vào hàng rào làm viên đá nảy trúng ngực anh Nguyễn Thế T3 nhưng không gây thương tích. Khi anh H2 đang dùng tay giữ hàng rào cho anh C hàn thì L đứng ở phía đối diện (bên ngoài hàng rào) cầm 01 hòn đá có kích thước (11x12x6,5) cm đập 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, trúng vào đốt III, ngón IV bàn tay trái của anh H2 đang giữ thanh kim loại của
hàng rào làm anh H2 bị thương. Anh H2 được đưa đến Trung tâm Y tế huyện L điều trị đến ngày 11/5/2023 thì ra viện.
Sau khi xảy ra sự việc, anh H2 làm đơn trình báo. Cùng ngày, Công an thị trấn P, huyện L lập biên bản vụ việc, thu giữ: 01 hòn đá kích thước (11x12x6,5) cm; 01 hòn đá kích thước (11x10x07) cm; 01 găng tay màu trắng, xanh kích thước (30x12) cm; 01 chiếc liềm có lưỡi bằng kim loại cong dài 27cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm; cùng ngày Công an thị trấn P, huyện L bàn giao hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 10/5/2023, anh Nguyễn Thành T2 giao nộp: 01 đĩa DVD bên trong có 03 video ghi lại diễn biến vụ việc xảy ra ngày 09/5/2023.
Cơ quan điều tra Công an huyện L (CQĐT) đã trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích, vật gây thương tích đối với anh Vũ Văn H2. Tại Kết luận giám định số 1449/23/KLTTCT-TTPY ngày 05/6/2023 của Trung tâm Pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Vũ Văn H2 tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm), thương tích do vật tày gây nên.
Tại Kết luận giám định số 1449B/23/KLVGTT-TTPY ngày 09/6/2023 của Trung tâm Pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Hòn đá dài 11 cm, rộng 12 cm, cao 6,5 cm và hòn đá dài 11 cm, rộng 10 cm, cao 7 cm (do Công an thị trấn P thu giữ) gửi giám định gây ra được thương tích cho Vũ Văn H2.
Cơ quan điều tra Công an huyện L đã trưng cầu giám định video ghi lại diễn biến sự việc do anh T2 giao nộp. Tại Kết luận giám định số 1067/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định. Trích xuất được 18 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong 03 file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho các anh Vũ Văn H2, Nguyễn Thành T2, Nguyễn Thế T3, Vũ Văn T1, Giáp Văn C, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thanh T5, Lê Văn N và Nguyễn Thị L xem video và bản ảnh trích xuất từ video do anh Nguyễn Thành T2 giao nộp; đồng thời cho xem, nhận dạng 02 viên đá thu giữ, kết quả: Các anh H2, T3, T2, T1, C, T4, T5, N đều xác định người phụ nữ trong video là L đang cầm 01 hòn đá đập vào bàn tay trái anh H2; còn 02 hòn đá là giống vật L gây thương tích cho anh H2; Bà Nguyễn Thị L xác định người trong video là L cầm vật nhưng không nhớ là vật gì; L không biết 02 hòn đá trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị L cho rằng vụ việc ngày 09/5/2023, L bị một số người trong Công ty Cổ phần B đánh gây thương tích và làm hư hỏng điện thoại, CQĐT Công an huyện L đã tiến hành thụ lý giải quyết bằng một vụ việc khác theo quy định. Ngày 15/7/2023, CQĐT Công an huyện L đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với tố giác nêu trên của Nguyễn Thị L. Không
đồng ý kết quả giải quyết, Nguyễn Thị L làm đơn khiếu nại và đã được thụ lý giải quyết đúng quy định nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn H2 không yêu cầu Nguyễn Thị L phải bồi thường dân sự.
Về vật chứng: 01 hòn đá kích thước (11x12x6,5) cm; 01 hòn đá kích thước (11x10x07) cm; 01 găng tay màu trắng xanh kích thước (30x12) cm; 01 chiếc liềm có lưỡi bằng kim loại cong dài 27cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm, CQĐT chuyển xử lý cùng vụ án.
Cáo trạng số: 106/CT-VKS ngày 28/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã xét xử và quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị L kháng cáo toàn bộ bản án, với nội dung bị cáo không phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; như bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử.
Tại phiên toà phúc thẩm, anh Vũ Văn H2 là người bị hại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị L với lý do bị cáo L ăn năn, hối cải, thừa nhận hành vi đã gây ra thương tích cho anh.
Bị cáo Nguyễn Thị L thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì anh Vũ Văn H2 là bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra và việc rút yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự của người bị hại tại phiên tòa phúc thẩm; đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 155, điểm d khoản 1 Điều 355 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Kiến nghị Công an huyên L, tỉnh Bắc Giang xử lý hành chính đối với bị cáo Nguyễn Thị L về hành vi “ Cố ý gây thương tích” theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị L không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị L không tự bào chữa, tranh luận, đối đáp gì.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị L đồng ý với quan điểm của đâị diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm, không tranh luận đối đáp gì.
Người bị hại anh Vũ Văn H2 không tranh luận đối đáp gì, giữ nguyên quan điểm về việc rút yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự và khởi tố đối với bị cáo L.
Bị cáo Nguyễn Thị L nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc anh Vũ Văn H2 là người bị hại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự, khởi tố bị can và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L thì thấy: Khoảng 09 giờ ngày 09/5/2023, tại khu vực tường rào thuộc dự án khu dân cư S, thị trấn P, huyện L; Nguyễn Thị L có hành vi dùng 01 hòn đá có kích thước (11x12x6,5) cm đập 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, trúng vào đốt III, ngón IV bàn tay trái của anh Vũ Văn H2. Hậu quả, anh H2 bị thương tích 03%.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị L đã thừa nhận hành vi của mình như bản Cáo trạng truy tố và Tòa sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội không oan sai.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý qây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm”. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Cố ý qây thương tích”; là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T và mẹ đẻ là bà Trần Thị C1 được Nhà nước tặng “Bảng gia đình vẻ vang”; có anh trai Nguyễn Văn Đ là liệt sĩ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Tổ quốc ghi công. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (S) tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm người bị hại là anh Vũ Văn H2 xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị L thay đổi nội dung kháng cáo tại phiên tòa đề nghị huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Việc anh Vũ Văn H2 là người bị hại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng bức, ép buộc, việc bị cáo Nguyễn Thị L đề nghị huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự và Công văn số: 254/TANDTC- PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì lý do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm. Bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
[5] Hội đồng xét xử kiến nghị Công an huyên L, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử lý hành chính đối với bị cáo Nguyễn Thị L về hành vi “ Cố ý gây thương tích” theo quy định của pháp luật.
[6] Về vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 hòn đá kích thước (11x12x6,5) cm; 01 hòn đá kích thước (11x10x07) cm; 01 găng tay màu trắng xanh kích thước (30x12) cm; 01 chiếc liềm có lưỡi bằng kim loại cong dài 27cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Do huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án nên bị cáo Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Anh Vũ Văn H2 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ vụ án.
-
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 hòn đá kích thước (11x12x6,5) cm; 01 hòn đá kích thước (11x10x07) cm; 01 găng tay màu trắng xanh kích thước (30x12) cm; 01 chiếc liềm có lưỡi bằng kim loại cong dài 27cm, chuôi bằng gỗ dài 13cm.
-
Án phí:
Anh Vũ Văn H2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị L không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |
Bản án số 115/2024/HS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 115/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L - cố ý gây thương tích
