TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HS-ST
Ngày 09-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lù Văn Mẳn.
- Ông Tòng Văn Máy.
- - Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Sùng A X, sinh ngày 01/01/1965, (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1), tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A C, con bà Hàng Thị D, đều đã chết; vợ Giàng Thị C1, sinh năm 1969, có 04 con lớn sinh năm 2001 nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: Tại bản án số 01/1997/HSST ngày 13/6/1997 Tòa án nhân dân Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hình phạt bổ sung phạt tiền là 2.000.000, đồng; án phí HSST là 50.000, đồng. Chưa được xóa án tích, do chưa thi hành án phí và hình phạt bổ sung; Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPVPHC ngày 16/12/2014 của Công an huyện V, tỉnh Yên Bái đã xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000, đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa thi hành; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Sùng A X: Bà Trần Bích L – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Sùng Thị K, sinh ngày 01/01/1982, (tên gọi khác Thào Thị K1), tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A P và con bà Giàng Thị X2 đều đã chết; có chồng là Thào A C2, sinh năm 1980, có 04 con lớn sinh năm 2002 nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 77/2015/HSST ngày 28/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Sùng Thị K: Ông Đèo Văn H – Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Tòng Văn L1, địa chỉ: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Cà Văn S1, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt
- Người phiên dịch cho hai bị cáo: Bà Vàng Thị D1. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Sùng A X, Sùng Thị K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 06/01/2024, tại nhà ở bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Công an phát hiện và bắt quả tang Sùng A X, sinh ngày 01/01/1965 ở bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Tòng Văn L1, sinh năm 2007, địa chỉ: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La và Cà Văn S1, sinh năm 2008, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La.
Vật chứng thu giữ:
- 01 cục bột màu hồng Tòng Văn L1 tự giác giao nộp khai là hồng phiến chưa sử dụng hết, mua của Sùng A X với số tiền 70.000, đồng;
- 01 cục bột màu hồng Cà Văn S1 tự giác giao nộp khai là hồng phiến để sử dụng, mua của Sùng A X với số tiền 70.000, đồng;
- 01 gói giấy bạc bên trong có chứa bột và các cục bột màu trắng Sùng A X tự giác giao nộp khai là H1 để sử dụng và bán kiếm lời.
- Số tiền 20.000, đồng (01 tờ mệnh giá 10.000, đồng và 02 tờ mệnh giá 5000, đồng), thu giữ của Sùng A X tự giác giao nộp khai là tiền bán ma túy cho Tòng Văn L1 mà có;
2
02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa màu xanh Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 sử dụng đốt hít ma túy.
Bắt giữ khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Sùng Thị K, sinh ngày 01/01/1982 đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Sùng A X.
Vật chứng thu giữ do Sùng Thị K tự giác giao nộp:
Số tiền 50.000, đồng (01 tờ mệnh giá 50.000, đồng), thu giữ của Sùng Thị K tự giác giao nộp khai là tiền bán ma túy cho Sùng A X mà có;
Ngày 06/01/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Sùng A X tự giác giao nộp:
01 gói giấy bạc bên trong có chứa bột và các cục bột màu trắng Sùng A X tự giác giao nộp khối lượng 0,08 gam, lấy 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu X;
Vật chứng thu giữ:
- 01 cục bột màu hồng Tòng Văn L1 tự giác giao nộp khai là hồng phiến có khối lượng 0,02 gam, lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu XL;
- 01 cục bột màu hồng Cà Văn S1 tự giác giao nộp khai là hồng phiến có khối lượng 0,01 gam, lấy 0,01 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu XS;
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 281/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu X là ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,08 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,08 gam Heroine.
Mẫu ký hiệu XL, XS là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định XL là 0,02 gam; XS là 0,01 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,03 gam Methamphetamine.
Kết luận giám định số tiền 70.000, đồng là tiền thật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Sùng A X, Sùng Thị K không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Sùng A X, Sùng Thị K, Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 khai nhận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 06/01/2024 Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 rủ góp tiền đi mua ma túy sử dụng, hai người nhất trí, Tòng Văn L1 góp 40.000, đồng Cà Văn S1 góp 30.000, đồng, đưa cho Tòng Văn L1 cầm. Hai người đến nhà Sùng A X ở bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vào nhà của Sùng A X, khi vào nhà Tòng Văn L1 trực tiếp trao đổi mua bán ma túy với Sùng A X. Tòng Văn L1 đưa cho Sùng A X 70.000, đồng. Sùng A X nhận tiền đi ra ngoài đến
3
nhà của Sùng Thị K (cùng bản) hỏi mua hai viên hồng phiến giá 50.000, đồng. Khi mua được hai viên hồng phiến mang về nhà đưa cho Tòng Văn L1 và Sùng A X lấy gói Heroine ra chia cho Tòng Văn L1 một phần. Khi có ma túy Tòng Văn L1 chia cho Cà Văn S1 mỗi người 01 viên hồng phiến và một ít Heroine. Mỗi người tự tách và mỗi người ra một góc tự sử dụng (đốt hít). Lúc hai người sử dụng trong nhà của Sùng A X, Sùng A X biết, nhìn thấy và để yên cho hai người đốt hít ma túy. Số hồng phiến còn lại chưa sử dụng hết thì Công an phát hiện và bắt quả tang. Sùng A X định lấy số Heroine còn lại ra sử dụng thì Công an phát hiện và bắt quả tang.
Số tiền 70.000, đồng mua bán ma túy mà có gồm: Thu giữ của Sùng Thị K là 50.000, đồng Sùng Thị K khai bán 02 viên hồng phiến cho Sùng A X mà có và thu giữ của Sùng A X là 20.000, đồng được lợi từ việc mua bán ma túy với Tòng Văn L1 mà có.
Về nguồn gốc số ma túy:
Sùng A X khai được một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ trả công kéo gỗ bằng 01 gói Heroine. Sau khi có được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời.
Số ma túy 02 viên hồng phiến bán cho Sùng A X, Sùng Thị K nhặt được ở đường B, xã N, huyện M mang về cất giấu ai hỏi mua thì bán.
Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Sùng A X.
Đối với Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 được xác định đều chưa có tiền án, tiền sự. Khối lượng ma túy thu giữ chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Công an đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Sùng A X đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Sùng Thị K đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
Bản cáo trạng số: 80/CT-VKS-ML ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Sùng A X về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Truy tố bị cáo các bị cáo Sùng Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Sùng A X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
4
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 2 Điều 256; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Sùng A X từ 26 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý";
Xử phạt Sùng A X từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”;
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Tuyên bố các bị cáo Sùng Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Sùng Thị K từ 26 đến 30 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy bạc một mặt trắng, một mặt vàng; 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa màu xanh (được niêm phong)
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 70.000, đồng do mua bán ma túy mà có.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Những người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
5
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Sùng A X:
Sùng A X, Sùng Thị K thừa nhận: Ngày 06/01/2024, tại nhà của Sùng A X ở bản P, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Sùng A X đã thực hiện hành vi bán trái phép 02 viên Methamphetaminne và H1 cho Tòng Văn L1 để lấy 70.000, đồng. Đồng thời Sùng A X mặc nhiên cho Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 sử dụng đốt hít ma túy tại nhà. Sau khi Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 sử dụng đốt hít ma túy số ma túy còn lại bị phát hiện bắt quả tang là 0,03 gam Methamphetaminne. 02 viên Methamphetaminne Sùng A X nhận tiền đến nhà Sùng Thị K mua với giá 50.000, đồng.
Xét hành vi bán ma túy của Sùng A X đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy chỉ một mình Tòng Văn L1 trực tiếp trao đổi mua bán, Cà Văn S1 không tham gia. Sùng A X không biết hai người Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 góp tiền với nhau để mua ma túy. Do đó có căn cứ xác định Sùng A X bán ma túy cho một người.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Sùng A X đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý của Sùng A X được xác định: Ngày 06/01/2024, tại nhà Sùng A X đã mặc nhiên cho Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 sử dụng đốt hít Heroine trong nhà. Tại thời điểm cho Cà Văn S1 sử dụng đốt hít Heroine trong nhà Cà Văn S1, sinh ngày 03/3/2008 (15 tuổi 10 tháng 03 ngày).
Hành vi mặc nhiên là thuộc bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nên việc mặc nhiên cho Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 sử dụng đốt hít Heroine tại nhà cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do Cà Văn S1, sinh ngày 03/3/2008 (15 tuổi 10 tháng 03 ngày), nên hành vi của Sùng A X đã phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết dịnh khung tăng nặng theo quy định tại điểm c “Đối với người dưới 16 tuổi” khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo Sùng A X là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
6
Về tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Sùng A X có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo có tiền án: Tại bản án số 01/1997/HSST ngày 13/6/1997 Tòa án nhân dân Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hình phạt bổ sung phạt tiền là 2.000.000, đồng; án phí HSST là 50.000, đồng. Chưa được xóa án tích, do chưa thi hành án phí và hình phạt bổ sung; Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPVPHC ngày 16/12/2014 của Công an huyện V, tỉnh Yên Bái đã xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000, đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa thi hành.
Nay bị cáo Sùng A X tiếp tục phạm tội là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Sùng A X có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h “Tái phạm” khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Sùng A X thật thà khai báo, bị cáo khai ra hành vi phạm tội của Sùng thị K2, giúp phát hiện tội phạm là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Sùng Thị K:
Bị cáo Sùng Thị K thừa nhận: Ngày 06/01/2024 đã bán trái phép 02 viên Methamphetamine cho Sùng A X lấy 50.000, đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo Sùng Thị K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Sùng Thị K phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo Sùng Thị K có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Nhân thân: Tại bản án số 77/2015/HSST ngày 28/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích, được coi là chưa có tiền án. Bị cáo Sùng Thị K không có tiền sự. Thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
[4]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy bạc một mặt trắng, một mặt vàng; 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa màu xanh (được niêm phong)
7
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 70.000, đồng do mua bán ma túy mà có.
[5]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy:
Sùng A X khai được một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ trả công kéo gỗ bằng 01 gói Heroine. Sau khi có được mang về mục để sử dụng và bán kiếm lời. Số ma túy 02 viên hồng phiến bán cho Sùng A X, Sùng Thị K nhặt được ở đường B, xã N, huyện M mang về cất giấu ai hỏi mua thì bán. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Sùng A X. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Đối với Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 được xác định đều chưa có tiền án, tiền sự. Khối lượng ma túy thu giữ chưa đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an đã xử phạt vi phạm hành chính là thỏa đáng.
Đối với hành vi của Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 sử dụng ma túy. Được xác định Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 cùng nhau đi mua để sử dụng. hai người góp tiền, khi chia ma túy để sử dụng thì mỗi người tự lấy và tự sử dụng riêng. Tòng Văn L1 và Cà Văn S1 đều không có ý thức cung cấp ma túy cho người khác và nhằm đưa ma túy vào cơ thể của nhau. Nên không có dấu hiệu của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ kết quả xác minh của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La thì bản án số 01/1997/HSST ngày 13/6/1997 Tòa án nhân dân Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xử phạt Sùng A X 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hình phạt bổ sung phạt tiền là 2.000.000, đồng; án phí HSST là 50.000, đồng, chưa thi hành án phí và hình phạt bổ sung. Kiến nghị theo quy định Điều 264 của của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chi cục Thi hành án dân sự Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cho thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước án phí, tiền phạt đã tuyên đối với Sùng A X.
Do các bị cáo không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h “Tái phạm” khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Sùng A X (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
8
Xử phạt bị cáo Sùng A X (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
2. Căn cứ điểm c “Đối với người dưới 16 tuổi” khoản 2 Điều 256; điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h “Tái phạm” khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Sùng A X (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1) phạm tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Sùng A X (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1) 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt hai tội. Buộc Sùng A X (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1) phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Sùng Thị K (tên gọi khác Thào Thị K1) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Sùng Thị K (tên gọi khác Thào Thị K1) 30 (ba mươi) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/01/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh giấy bạc một mặt trắng, một mặt vàng; 02 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa màu xanh (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 06/01/2024);
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 70.000, đồng (bẩy mươi nghìn đồng) do mua bán ma túy mà có (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 26/3/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
9
Bị cáo Sùng A X (tên gọi khác Sùng A S, Sùng Vàng X1), Sùng Thị K (tên gọi khác Thào Thị K1) phải chịu mỗi người 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 09/7/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
10
11
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Thào A Sú, Sùng Thị Khua phạm tội MBTPCMT
