Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 05-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Hải, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí, nguyên chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Man Anh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Đức T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05 tháng 12 năm 1993 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký thường trú: thôn K, xã P, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Hương G và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  2. Đào Phi H1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 11 năm 2005 tại tỉnh Lào Cai; nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Đức H2 (đã chết) và bà Lương Thị L1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  3. Nguyễn Ngọc T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 4 năm 2006 tại tỉnh Thái Nguyên (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 8 tháng 24 ngày); nơi đăng ký thường trú: xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  4. Kha Thị Thu H3 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 9 năm 1999 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: Bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kha Văn A và bà Lương Thị P; có chồng là Trần Hồng P1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

  5. KPĂ H' NA (tên gọi khác: Không), sinh ngày 07 tháng 8 năm 2001 tại tỉnh Gia Lai; nơi đăng ký thường trú: buôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ là ông La O V, bố dượng là ông Lê Mo K và mẹ đẻ là bà KPĂ H' RÔNG; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Ngọc T1: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1984; địa chỉ: xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (mẹ đẻ của Nguyễn Ngọc T1). Có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Ngọc T1: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1972 là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1983; địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Tạ Văn H4, sinh năm: 1983; địa chỉ: tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  2. Ông Tạ Văn H5, sinh năm: 1966; địa chỉ: tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 25/12/2023, Lê Đức T, Đào Phi H1 và Nguyễn Ngọc T1 uống rượu tại quán cafe “Cool” có địa chỉ tại chợ S1 thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, T, H1 và T1 có nói chuyện liên quan đến sử dụng ma túy thì T nói T đang có 01 (một) chỉ “Ke” và 01 (một) viên ma túy “Kẹo” trong người, đồng thời rủ H1 và T1 nhau cùng sử dụng ma tuý. H1 sử dụng điện thoại để liên lạc với KPĂ H' NA qua phần mềm Messenger trên Facebook với nội dung mượn phòng của NA tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để sử dụng ma túy, NA đồng ý. Lúc này NA đang đi ăn cùng Kha Thị Thu H3 tại chợ S1, khi biết H1 mượn phòng để sử dụng ma túy, NA nhắn tin xin H1 02 (Hai) viên “Cúc” (Gọi là ma túy “Kẹo”) để NA và H3 sử dụng, đồng thời NA rủ H3 về phòng cùng sử dụng ma túy thì H3 đồng ý. Được NA đồng ý cho mượn phòng, H1 dẫn T và T1 đi đến nhà trọ Lan A1, nhưng do khóa cửa không vào được nên T1 và T quay lại quán cafe, H1 liên hệ qua Messenger cho NA để NA về mở cổng, NA bảo H3 ở quán ăn, còn mình đi về nhà trọ mở cổng cho H1, sau đó N1 tiếp tục quay lại quán ăn cùng với H3. Khi cổng trọ đã mở, H1 quay lại quán cafe dẫn theo T1 và T về nhà trọ L3 và lên phòng 307 (phòng trọ của NA), do cửa phòng 307 không khóa nên H1, T và T1 đi vào trong phòng. H1 sử dụng máy sấy để dưới gầm giường trong phòng, rồi cắm nguồn điện và hơ nóng đĩa sứ. Hơ xong H1 đặt lên giường. Lúc này T1 thấy đèn nháy để trên cửa sổ nên đã cắm vào nguồn điện rồi bật đèn lên để bay lắc sử dụng ma túy. T lấy ma túy “Ke” ra đổ hết lên đĩa sứ đã được khò sẵn, Do không có đồ gì để tán nhỏ ma túy “Ke”, T hỏi H1 và T1 có cái “đảo” không thì T1 lấy từ trong người ra 01 (một) thẻ nhựa cứng màu cam là thẻ ngân hàng S2 mang tên “NGUYEN NGOC THANH” rồi vứt lên giường cho T xào ma túy. H1 dùng điện thoại của mình để kết nối loa có sẵn ở trong phòng nhưng không kết nối được, H1 đã nhắn tin cho NA để hỏi tên loa, NA nhắn lại cho H1 tên loa, H1 kết nối được với loa và tự phát nhạc sàn để phục vụ việc bay lắc. Trọng xào ma túy xong không có ống hút, H1 tìm quanh nhà thì thấy trong góc bàn kê trong phòng có 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cố định hai đầu bằng đầu lọc thuốc lá. H1 lấy ống hút và để cạnh đĩa sứ đang đựng ma túy. Trọng kẻ, chia ma túy thành các đường thẳng nhỏ rồi đưa cho H1 và T1 lần lượt tự sử dụng ma túy, T cũng tự sử dụng ma túy trên đĩa. Sử dụng ma tuý xong H1 bảo Trọng là ma tuý “kẹo” đâu để cho NA và H3 sử dụng, thì T nói “hết rồi”. T lấy số tài khoản ngân hàng của H1 và chuyển cho H1 300.000 đồng để H1 mua ma tuý “kẹo” cho NA và H3 sử dụng. Khoảng 30 phút sau thì H3 và NA về phòng, T thấy NA và H3 về nên đã kẻ ma tuý rồi đưa cho H3 và Na tự sử dụng bằng hình thức hít vào trong cơ thể, sử dụng ma túy xong NA để đĩa ma túy lên nóc tủ lạnh. Sau đó, H3 bảo H1 ngắt kết nối Blutooh trên điện thoại của H1 với loa để H3 kết nối với loa và bật nhạc khác bay lắc sử dụng ma túy. Khoảng 30 phút sau, T bảo H3 lấy đĩa ma túy trên nóc tủ để Trọng kẻ, chia ma túy cho NA, H3, H1 và T tự sử dụng hết số ma túy trên đĩa, lúc này T1 đã không sử dụng ma tuý nữa. Một lúc sau H1 hỏi H3 có sử dụng ma tuý loại “Kẹo” không thì đưa số tài khoản cho H1 để H1 chuyển khoản, H3 đồng ý, H1 chuyển cho H3 số tiền 600.000 đồng để H3 mua 02 (hai) viên ma túy “kẹo” (trong đó có 300.000 đồng là tiền của T chuyển cho H1 và 300.000 đồng còn lại là tiền của H1). H3 nhận tiền và liên hệ qua tài khoản xã hội Facebook với người có tên “Đoàn Văn T2” để mua 02 viên ma tuý loại “kẹo” và hẹn T2 mang đến nhà trọ Lan A1 để giao ma túy cho H3. H3 đã dử dụng tài khoản ngân hàng M1 số 0010720216869 của H3 chuyển số tiền 600.000 đồng đến số tài khoản 000621262005 ngân hàng MB mang tên “NGUYEN THI LINH CHI” cho T2. Khoảng 5 đến 10 phút sau, người tên T2 gọi điện cho H3 xuống lấy ma tuý, H3 đi xuống thấy một người nam giới mặc áo khoác chùm mũ màu đen, đeo khẩu trang đen, điều khiển xe mô tô Exciter không rõ BKS đi xe về phía H3, khi thấy H3 người này đi chậm lại và đưa ma tuý loại “Kẹo” cho H3, H3 đưa tay ra nhận số ma tuý trên rồi người này phóng xe mô tô rời đi. Sau khi nhận được ma tuý, H3 mang lên phòng 307, đưa cho NA 01 viên ma tuý loại “kẹo”, NA đã sử dụng bằng hình thức uống vào trong cơ thể, sau đó H3 cũng sử dụng 01 viên ma tuý loại “kẹo” còn lại bằng hình thức uống vào trong cơ thể. Sử dụng ma túy xong tất cả nằm nghe nhạc. Đến khoảng 03 giờ ngày 26/12/2023 thì T có nói là “hết đồ rồi thì anh về trước đây”, rồi đi ra khỏi phòng trọ ra về. Còn H1, T1, N1 và H3 tiếp tục nằm trên giường nghe nhạc đến khoảng 04 giờ cùng ngày thì Công an phường Đ đến kiểm tra phát hiện, lập biên bản và thu giữ vật chứng theo quy định.

Quá trình kiểm tra, phát hiện thu giữ: trên nóc tủ lạnh ngay sát cửa ra vào có 01 đĩa sứ màu trắng, trên bề mặt đĩa sứ có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa màu cam và 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành ống hút. Theo các đối tượng khai nhận, các đồ vật nêu trên là công cụ để các đối tượng chế biến, sử dụng ma túy tại phòng 307.

Ngoài ra KPĂ H' NA tự nguyện giao nộp: 01 (một) loa mini màu xám đen, nhãn hiệu SOULD LIKE cũ đã qua sử dụng; 01 (một) máy sấy màu đen có gắn dây điện nguồn, máy cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn nháy màu đen, có gắn dây điện nguồn, đèn cũ, đã qua sử dụng, đây là công cụ để các đối tượng chế biến, sử dụng ma túy và bay lắc tại phòng 307; cơ quan công an còn thu giữ 05 (năm) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả: KPĂ H' NA dương tính với MET+MDMA; Lê Đức T, Kha Thị Thu H3 và Nguyễn Ngọc T1 dương tính với MET + MDMA + KET; Đào Phi H1 dương tính với KET.

Tại bản Kết luận giám định số 130/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy bám dính trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng trong phong bì ký hiệu “A” gửi giám định, loại Ketamine; Tìm thấy chất ma túy bám dính trên 01 (một) thẻ nhựa màu cam trong bì niêm phong ký hiệu “A” gửi giám định, loại Ketamine; tìm thấy chất ma túy bám dính trên 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng trong bì niêm phong ký hiệu “A” gửi giám định, loại Ketamine.

Quá trình làm việc, Lê Đức T khai không phải là người khởi xướng việc sử dụng ma túy, không phải là người bảo H1 mượn phòng để sử dụng ma túy và T khai T chỉ mang ma túy “Ke” và sử dụng ma tuý loại “Ke” tại phòng 307 ngoài ra không mang và sử dụng ma tuý “kẹo” tại đây, việc T nói với H1 và T1 là có 01 (một) chỉ “Ke” và 01 (một) viên “kẹo” để H1 và T1 không chê ít đồ. Ngoài ra, T cũng không thừa nhận việc lấy đĩa sứ và bảo H1 hơ nóng đĩa để T xào ma túy và cũng không phải là người chủ động chuyển khoản số tiền 300.00 đồng cho H1 để mua ma túy “Kẹo” cho N1 và H3 sử dụng. Tuy nhiên những người có mặt trong phòng lúc đó là H1 và T1 đều khẳng định T chính là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma túy, bảo H1 mượn phòng, khi vào phòng thì T là người lấy đĩa sứ đưa cho H1 bảo H1 hơ nóng đĩa để Trọng xào “Ke” và tại đây T có sử dụng ma túy loại “Kẹo”. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đối chất giữa bị cáo T và H1, T1, H3 và NA tuy nhiên các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSPY ngày 04/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Lê Đức T, Đào Phi H1, Kha Thị Thu H3, KPĂ H' NA về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và Nguyễn Ngọc T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thay đổi nội dung truy tố, đề nghị xét xử bị cáo Kha Thị Thu H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Đào Phi H1, Nguyễn Ngọc T1, Kha Thị Thu H3, KPĂ H' NA phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Đức T từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Đào Phi H1 từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt KPĂ H' NA từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Kha Thị Thu H3 từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Ngọc T1 từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị:

  • Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý, vỏ bao gói kèm theo và các đồ dùng để sử dụng ma tuý;
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các điện thoại của các bị cáo Đào Phi H1, Kha Thị Thu H3, KPĂ NA do đã sử dụng để liên lạc, trao đổi liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
  • Trả lại cho Nguyễn Ngọc T1 02 điện thoại do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T1 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tổng thể toàn diện các tình tiết của vụ án khi lượng hình, cân nhắc tính chất, mức độ, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 là do bị rủ rê, vai trò đồng phạm thấp nhất trong vụ án, nhận thức pháp luật hạn chế, tuổi còn trẻ, khi có hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 08 tháng 24 ngày, ở độ tuổi này bị cáo chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về các mặt thể chất, trí tuệ và tâm sinh lý, mục đích sử dụng ma túy là nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân cá nhân mỗi bị cáo chứ không nhằm mục đích lợi nhuận, hơn nữa trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử công khai bị cáo tỏ ra rất hối hận, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, bên cạnh đó bị cáo có hoàn cảnh thiệt thòi so với các bạn cùng trang lứa bố mất sớm, mẹ đi bước nữa, ở với cậu mợ nên cũng thiếu đi sự quản lý giáo dục từ người cha người mẹ, từ đó cân nhắc xử phạt bị cáo mức án phù hợp để bị cáo có thêm điều kiện sớm được trở về để làm lại cuộc đời, chuộc lỗi lầm mà mình đã gây ra. Bị cáo là người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên mức hình phạt áp dụng 3/4 so với người phạm tội trưởng thành. Vì vậy Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình và xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất mức đề xuất của kiểm sát là 4 năm 06 tháng là phù hợp quy định của pháp luật hiện hành.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm có cơ hội được trở về hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 25/12/2023 tại phòng 307 nhà T tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Lê Đức T, Đào Phi H1, Nguyễn Ngọc T1, Kha Thị Thu H3, KPĂ H' NA đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đào Phi H1 mượn phòng của KPĂ H' NA để tổ chức sử dụng ma túy, được N1 đồng ý. Lê Đức T mang ma túy loại Ketamine vào phòng và sử dụng thẻ ngân hàng do Nguyễn Ngọc T1 cung cấp để dằm nhỏ ma túy rồi xào, kẻ và chia thành các đường nhỏ rồi tự sử dụng, sử dụng xong T đưa cho H1, T1, H3 và NA lần lượt tự sử dụng; H1 chuyển cho H3 số tiền 600.000 đồng để H3 mua 02 viên ma túy loại MDMA, sau khi mua được ma túy H3 mang lên phòng rồi tự sử dụng 01 (một) viên và đưa cho NA 01 (một) viên để NA tự sử dụng. Ngoài ra H3 còn có hành vi bật nhạc để cho các đối tượng trong phòng bay lắc, tăng hưng phấn sau khi sử dụng ma túy. Thời điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Ngọc T1 được 17 tuổi 8 tháng 24 ngày. Các đối tượng sử dụng ma tuý đến khoảng 04 giờ ngày 26/12/2023 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, lập biên bản, thu giữ vật chứng.

Hành vi của các bị cáo Lê Đức T, Đào Phi H1, KPĂ H' NA đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là phạm tội “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Hành vi của bị cáo Kha Thị Thu H3 và Nguyễn Ngọc T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là phạm tội “Đối với 02 người trở lên”. Việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thay đổi nội dung đề nghị đối với bị cáo Kha Thị Thu H3 là có căn cứ bởi lẽ, khi bị cáo H3 bắt đầu thực hiện các hành vi tổ chức sử dụng ma tuý là dùng điện thoại bật nhạc cho các đối tượng bay lắc, đưa ma tuý cho đối tượng khác sử dụng thì Nguyễn Ngọc T1 (người dưới 18 tuổi) đã không sử dụng chất ma tuý nữa. Do vậy, nội dung thay đổi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Tội danh và hình phạt được quy định cụ thể như sau:

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; ...

[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

  • Về nhân thân: Trước khi phạm tội, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, đều là người có nhân thân tốt.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Đức T có ông ngoại là Nguyễn Văn T3 là người có công với đất nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, có bố đẻ là Lê Xuân H từng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4] Về hình phạt đối với các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo đều mang tính giản đơn, không có sự phân công, tổ chức chặt chẽ. Các bị cáo đều có tuổi đời còn trẻ, đều là người có nhân thân tốt. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất, mức độ, nhân thân của từng bị cáo để đưa ra mức án phù hợp.

Lê Đức T là người khởi xướng, cung cấp ma tuý Ke cho các đối tượng còn lại, là người trực tiếp xào ke, cung cấp tiền cho H3 mua ma tuý nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án; H1 là người giữ vai trò cao thứ hai trong vụ án bởi bị cáo là người tích cực liên hệ chuẩn bị địa điểm cho các đối tượng chơi ma tuý, khò nóng đĩa, tìm tẩu, cung cấp tiền cho H3 mua ma tuý; NA là người cung cấp địa điểm cho các đối tượng chơi ma tuý, rủ rê H3 chơi ma tuý nên giữ vai trò thứ ba trong vụ án; H3 bật nhạc, trực tiếp đi mua ma tuý cho NA và H3 sử dụng nên giữ vai trò cao thứ tư trong vụ án; T1 giữ vai trò thấp nhất trong vụ án. Do T có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 nên T và H1 chịu mức hình phạt tương đương nhau. NA, H3 và T1 lần lượt chịu mức hình phạt thấp hơn tương ứng với vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Riêng bị cáo T1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi quyết định hình phạt.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội các bị cáo không có thu nhập ổn định, phạm tội không có mục đích thu lời bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Toàn bộ các công cụ để sử dụng ma tuý, vỏ bao gói kèm theo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ; Các điện thoại của các bị cáo KPĂ H' NA, Đào Phi H1, Kha Thị Thu H3 và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Các điện thoại của Nguyễn Ngọc T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Các nội dung khác liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số ma túy “Ketamine” do Lê Đức T mang vào phòng 307 nhà trọ Lan A1, theo T khai mua của một người nữ giới tên Y tại khu vực chợ S3 vào thời gian trước ngày 25/12/2023 khoảng 10 ngày với số tiền 1.300.000 đồng. Trong không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của Y, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với phòng trọ 307 thuộc nhà trọ L3 là phòng của KPĂ H' NA thuê của bà Nguyễn Thị L2 (sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên). Phòng trọ trên bà L2 đã làm hợp đồng cho N1 thuê từ ngày 27/5/2023, việc các đối tượng tụ tập, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bà L2 không biết, không tham gia và cũng không hưởng lợi gì từ việc này. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không có căn cứ để xử lý đối với bà L2.

Đối với 02 (hai) viên ma túy “Kẹo”, Kha Thị Thu H3 khai mua của một người nam giới có tên Face B là “Đoàn Văn T2” bằng hình thức chuyển số tiền 600.000 đồng vào tài khoản có tên “NGUYEN THI LINH CHI”. Quá trình lấy lời khai Đoàn Văn T2 khai ngày 26/12/2023, H3 dùng tài khoản M gọi cho T2 để rủ T2 đi chơi nhưng T2 không đi, còn đối với số tiền 600.000 đồng H3 chuyển cho T2 là số tiền trước đây H3 nợ T2, do tài khoản của T2 không sử dụng được nên T2 nhắn cho H3 số tài khoản của bạn gái T2. Sau khi H3 chuyển cho Nguyễn Thị Linh C thì C đã đưa lại cho T2. T2 xác định ngày 26/12/2023 T2 không gặp gỡ, trao đổi mua bán ma túy với H3; C cũng xác định không biết mục đích H3 chuyển tiền cho T2 để làm gì. Cơ quan Công an đã cho Kha Thị Thu H3 nhận dạng và thực hiện việc đối chất với Đoàn Văn T2 nhưng H3 không xác định được T2 có phải người bán ma túy cho mình hay không. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Các bị cáo Lê Đức T, Đào Phi H1, Nguyễn Ngọc T1, Kha Thị Thu H3, KPĂ H' NA phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

2.1. Về hình phạt chính:

  • Xử phạt Lê Đức T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
  • Xử phạt Đào Phi H1 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
  • Xử phạt KPĂ H' Na 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
  • Xử phạt Kha Thị Thu H3 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
  • Xử phạt Nguyễn Ngọc T1 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A ghi bên trong có: (01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu cam); 01 hộp cattong niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C ghi bên trong có: (01 loa mini màu xám đen, nhãn hiệu SOULD LIKE đã qua sử dụng; 01 máy sấy màu đen có gắn dây điện nguồn, đã qua sử dụng; 01 đèn nháy màu đen có gắn dây điện nguồn đã qua sử dụng);
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng của KPĂ H' NA đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT21; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu gold, đã qua sử dụng của Đào Phi H1 đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐTH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, đã qua sử dụng của Kha Thị Thu H3 đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT10; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được đựng trong túi niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A;
  • Trả lại 02 điện thoại di động đều có nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, đã qua sử dụng đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT2 cho Nguyễn Ngọc T1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 28 tháng 5 năm 2024.

4. Về án phí sơ thẩm:

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Trại tạm giam CAT Thái Nguyên;
  • - Nhà tạm giữ CATP Phổ Yên;
  • - Bị cáo; Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Xuân Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger