|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày: 04-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Mây
- Bà Lâm Thị Nga
- Thư ký phiên toà: ông Triệu Việt Anh Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 180/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 601/2024/QĐXXST ngày 22/5/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Tường H, sinh năm 1999; Nơi sinh: tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn G, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Tường N, sinh năm 1977, con bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1982; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2023 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2004;
- Anh Lê Quang Đ, sinh năm 1999;
Nơi cư trú: 173/412, Tổ E, Khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: C B, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Tường H đã thực hiện những hành vi phạm tội như sau:
Vụ thứ nhất: Nguyễn Tường H và Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2004 là bạn bè quen biết và làm chung trong công ty M, tại địa chỉ số I đường H, tổ B, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của Hoàng A đem bán lấy tiền tiêu xài. Do đang bị bệnh nên H lên kế hoạch đợi Hoàng A đến công ty thì H sẽ giả vờ hỏi mượn xe mô tô của Hoàng A đi mua thuốc, sau đó sẽ chiếm đoạt đem xe môtô đi cầm hoặc bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 07 giờ ngày 09/11/2023, H đón xe Grabike đến Công ty M để đi làm. Huấn đứng đợi trước cổng công ty, đến khoảng 07 giờ 30 phút thì Hoàng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 50Y1-631.02 đến, H liền hỏi mượn xe mô tô của Hoàng A để đi mua thuốc, lát sẽ quay lại thì Hoàng A đồng ý giao xe mô tô biển số 50Y1-631.02 cho H, lấy được xe thì H điều khiển xe mô tô đi đến tiệm thuốc tây trên đường L, thuộc phường H, Quận A mua thuốc uống, sau đó điều khiển xe mô tô trên về phòng trọ của Huỳnh Văn T1, tại địa chỉ số C đường T, khu phố A, phường T, Quận A để cất giấu. Tại đây H lên trang mạng xã hội Facebook đăng bán xe mô tô biển số 50Y1-631.02, thì có một người đàn ông (chưa xác định) liên hệ mua xe mô tô trên thì H đồng ý và người đàn ông hẹn gặp để coi xe. Huấn điều khiển xe mô tô biển số 50Y1-631.02 đi đến trước công viên thuộc tổ D, khu phố C, phường T, Quận A (đối diện trường Nguyễn Thị Đ1) gặp người đàn ông, sau khi kiểm tra xe người đàn ông đồng ý mua xe mô tô biển số 50Y1-631.02 của H với giá tiền 2.500.000 đồng thì H đồng ý bán, người đàn ông giao cho H số tiền 2.500.000 đồng và điều khiển xe mô tô bỏ đi, số tiền 2.500.000 đồng H đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Ngày 01/12/2023, Nguyễn Tường H đi từ quê Ninh Thuận đến Thành phố Hồ Chí Minh chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày H đến khách sạn T4, địa chỉ số H tổ A, khu phố D, phường T, Quận12, thuê phòng 201 của khách sạn N1. Đến 10 giờ 00 phút ngày 02/12/2023, H xuống gặp lễ tân khách sạn là anh Lê Quang Đ, sinh năm 1999 để trả phòng, do không có tiền nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của anh Đ. H giả vờ hỏi mượn điện thoại di động Iphone 11 Promax của anh Đ để gọi điện thoại cho bạn thì anh Đ đồng ý đưa điện thoại cho H sử dụng. Huấn giả vờ gọi điện thoại nói chuyện với bạn, vừa đi bộ ra cổng khách sạn, nhìn thấy vậy, anh Đ nói H đứng gần khu vực lễ tân để sử dụng điện thoại thì H nhanh chóng chạy ra ngoài đường tẩu thoát. Anh Đ chạy bộ truy đuổi theo H đến trước địa chỉ số B đường T, tổ I, khu phố A, phường T, Quận A thì bắt giữ được H cùng tang vật giao Công an phường T, Quận A lập hồ sơ xử lý.
Tại Cơ quan CSĐT Công an Q, Nguyễn Tường H đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cướp giật tài sản như nội dung vụ việc nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 378/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 50Y1-631.02 trị giá số tiền là 21.500.000 đồng (bút lục 57-58).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 380/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 (một) điện thoại hiệu Apple Iphone 11 Promax trị giá số tiền là 8.000.000 đồng (bút lục 52-53).
*Vật chứng và xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại hiệu Apple Iphone 11 Promax, số I 1: 353898102328572, số Imei 2: 353898102159878. Công an phường T đã lập biên bản trả lại cho bị hại (bút lục 145A).
- 02 (hai) USB chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.
Về bồi thường dân sự: anh Nguyễn Hoàng A đã được gia đình Nguyễn Tường H bồi thường số tiền 25.000.000 đồng; anh Lê Quang Đ đã nhận lại được điện thoại bị cướp giật.
Tại Bản cáo trạng số: 161/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tường H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
Áp dụng Khoản 1 Điều 171 và Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tường H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về “cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt hai tội từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Hoàng A đã được gia đình Nguyễn Tường H bồi thường số tiền 25.000.000 đồng; anh Lê Quang Đ đã nhận lại được điện thoại bị cướp giật và không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tường H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ việc cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 09/11/2023, tại địa chỉ số I đường H, tổ B, khu phố A, phường H, Quận A, Nguyễn Tường H đã lên kế hoạch giả vờ mượn xe mô tô của anh Nguyễn Hoàng A sau đó đem bán lấy tiền tiêu xài. Bằng hành vi gian dối của mình H đã chiếm đoạt được 01 xe mô tô qua định giá có trị giá số tiền là 21.500.000 đồng. Đến ngày 01/12/2023, Nguyễn Tường H đã thực hiện hành vi cướp giật điện thoại di động hiệu Apple Iphone 11 Promax của anh Lê Quang Đ tại khách sạn T4 địa chỉ số H tổ A, khu phố D, phường T, Quận A. Qua định giá điện thoại Iphone 11 Promax trị giá số tiền là 8.000.000 đồng.
Do đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tường H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Vì Vậy, cần xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Hoàng A, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Apple Iphone 11 Promax, số I 1: 353898102328572, số Imei 2: 353898102159878 Ghi nhận Công an phường T đã lập biên bản trả lại cho bị hại (bút lục 145A).
- Lưu hồ sơ vụ án 02 (hai) Usb chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Hoàng A đã được gia đình bị cáo Nguyễn Tường H bồi thường số tiền 25.000.000 đồng; anh Lê Quang Đ đã nhận lại được điện thoại bị cướp giật. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Tường H phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 171 và khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tường H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Tường H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 12 năm 2023.
Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Tường H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Hội thẩm nhân dân |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Triệu Thị Thùy Trang |
Nơi nhận:
- - TAND TPHCM (1b);
- - VKSND TPHCM (1b);
- - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
- - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
- - VKSND Quận 12 (1b);
- - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
- - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
- - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
- - UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
- - Bị cáo, bị hại (2b);
- - Bộ phận THA Hình sự (5b);
- - Lưu (vt, hs) (8b).
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cướp giật tài sản)
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cướp giât tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
