Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01 - 8 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Đạt và ông Phạm Công Gia.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2024/TLST-HNGĐ 18 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T – sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Lê Hoàng Đ – sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Hoàng Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008 và được Ủy ban nhân dân xã P cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/6/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ngoài ra, anh Đ thường xuyên chửi bới, đánh đập chị. Từ năm 2017, vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Hoàng Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 03 con chung:

  • + Lê Hoàng L – sinh ngày: 02/7/2009.
  • + Lê Hoa Trà M – sinh ngày: 20/11/2010.
  • + Lê Hoàng Gia B – sinh ngày: 24/9/2012.

Từ khi chị và anh Đ sống ly thân, các con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng.

Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Lê Hoàng Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Thanh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay chị Trần Thị Thanh T yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị T có 03 con chung:

  • + Lê Hoàng L – sinh ngày: 02/7/2009.
  • + Lê Hoa Trà M – sinh ngày: 20/11/2010.
  • + Lê Hoàng Gia B – sinh ngày: 24/9/2012.

Từ khi vợ chồng ly thân nhau đến nay, các con chung do chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Khi ly hôn, anh đồng ý giao 03 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

  • - Về nội dung vụ án:

    • + Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị T và anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Lê Hoàng Đ.

    • + Về con chung: Đề nghị giao 03 con chung là Lê Hoàng L – sinh ngày: 02/7/2009, Lê Hoa Trà M – sinh ngày: 20/11/2010, Lê Hoàng Gia B – sinh ngày: 24/9/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Đ không cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

    • + Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh Đ kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

    • + Về án phí: Đề nghị buộc chị Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Lê Hoàng Đ. Anh Đ đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lê Hoàng Đ là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị T và anh Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị T và anh Đ sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/6/2008. Nay chị T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Đ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 11, 85, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết.

[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đ đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/6/2008. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị T yêu cầu ly hôn với lý do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh Đ còn thường xuyên chửi bới, đánh đập chị. Anh Đ thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị T.

Qua ý kiến thừa nhận của các đương sự thể hiện trong cuộc sống chung của chị T và anh Đ xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Xét thấy hôn nhân của chị T và anh Đ trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T là cho chị được ly hôn với anh Lê Hoàng Đ.

[3.2]. Về con chung: Chị T và anh Đ có 03 con chung:

  • + Lê Hoàng L – sinh ngày: 02/7/2009.
  • + Lê Hoa Trà M – sinh ngày: 20/11/2010.
  • + Lê Hoàng Gia B – sinh ngày: 24/9/2012.

Chị T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung. Anh Đ cũng đồng ý với yêu cầu nuôi con của chị T.

Xét thấy, bản thân chị T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị T và anh Đ ly thân đến nay, các con chung sống cùng chị T và được chị T trực tiếp nuôi dưỡng tốt. Ngoài ra, các con chung đều có nguyện vọng sống cùng chị T. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao 03 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

[3.3]. Về tài sản chung: Chị T và anh Đ kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 11, 85, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thanh T. Cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Hoàng Đ.

2. Về con chung: Chị T và anh Đ có 03 con chung:

  • + Lê Hoàng L – sinh ngày: 02/7/2009.
  • + Lê Hoa Trà M – sinh ngày: 20/11/2010.
  • + Lê Hoàng Gia B – sinh ngày: 24/9/2012.

Giao cả 03 con chung cho chị Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Lê Hoàng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh Đ kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012978 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị T và anh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND xã Phú Sơn: Để ghi vào sổ
  • hộ tịch (Giấy CNKH số 46, cấp
  • ngày 10/6/2008);
  • - Lưu HS - LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger