Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 17/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Hanh

2. Ông Nguyễn Văn Kỹ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Quốc T, sinh năm 1984, tại Hà Nội; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số I M, tập thể M, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Thanh L (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ là Nguyễn Kim A, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 14/7/1998, T bị Công an quận H, TP Hà Nội xử phạt hành chính, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản của công dân.
  • + Ngày 13/9/1998, T bị Công an phường T, quận H, TP Hà Nội xử phạt hành chính, hình thức “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản.
  • + Bản án số 1552/HSST ngày 14/10/1999, TAND TP Hà Nội xử phạt T 10 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 28/3/2000, T chấp hành xong bản án.
  • + Bản án số 329/HSST ngày 16/12/2002, TAND quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội xử phạt T 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/7/2003, T chấp hành xong bản án.
  • + Ngày 04/02/2007, T bị Công an phường P, quận T, TP Hà Nội xử phạt hành chính hình thức phạt tiền 150.000đ về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/02/2007, T nộp đủ tiền phạt.
  • + Bản án số 266/2008/HSST ngày 18/11/2008, TAND quận Cầu Giấy, TP Hà Nội, xử phạt T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/4/2009, T chấp hành xong bản án.
  • + Ngày 24/9/2013, T bị Công an quận T, TP Hà Nội xử phạt hành chính hình thức phạt tiền 3.500.000đ về hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ. Ngày 27/9/2013, T nộp đủ tiền phạt.

Bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần.

  • * Người bào chữa cho bị cáo (do chỉ định): Ông Nguyễn Anh Đ, luật sư Công ty L3, đoàn luật sư tỉnh B; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
  • * Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1951; trú tại: thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
    • 1. Chị Nguyễn Kim A, sinh năm 1991; trú tại: Số I M, tập thể M, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
    • 2. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952; trú tại: Số I M, tập thể M, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
    • 3. Chị Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1973; trú tại: Số D phường B, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
    • 4. Chị Mai Thị T1, sinh năm 1988; trú tại: Số E, ngách I phố C, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • * Người tham gia tố tụng khác:
    • 1. Ông Nguyễn Hữu B - Cán bộ phụ trách tin học thuộc TAND tỉnh Bắc Ninh.
    • 2. Cán bộ tin học Trại tạm giam Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h30' ngày 21/3/2024, Đặng Quốc T, sinh năm 1984, HKTT: Số I, tập thể M, phường B, quận H, TP Hà Nội điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade đeo BKS 29E2-194.62 đi từ nhà sang huyện T, tỉnh Bắc Ninh mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi, T mang theo 01 túi vải dù màu xanh bên trong có: 01 BKS xe mô tô 29D2-200.72; 02 thanh kim loại màu trắng dài 50cm rộng 2,5cm, hai đầu dẹt; 01 thanh kim loại hình trụ tối màu dài 50cm, một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 thanh kim loại hình trụ tối màu dài 60cm, có các đường vân nổi chạy dọc thân, một đầu dẹt; 01 tô vít hai cạnh dài 32cm; 01 tay công vặn ốc bằng kim loại hình chữ L dài 17cm, đầu vặn ốc dài 06cm; 01 con dao bầu bằng kim loại dài 30cm, cán bằng gỗ dài 12,5cm, vỏ bao hình chữ nhật quấn băng dính đen; 01 đôi găng tay bằng vải màu đen. Khoảng 13h cùng ngày, T đi đến trước cửa nhà anh Nguyễn Thì V, sinh năm 1990 ở thôn L, thị trấn L, huyện T. Quan sát thấy đoạn đường vắng người qua lại, nhà anh V khóa ngoài bằng loại khoá móc treo, đoán là không có ai ở trong nhà nên dừng xe lại, lấy trong túi xách ra 01 chiếc xà cầy và 01 thanh kim loại tự chế chọc vào móc treo khóa cửa cổng rồi vặn mạnh làm ổ khóa cửa bung ra. T mở cửa cổng đi vào trong sân nhà rồi đi đến cửa ngách bằng kim loại, T tiếp tục phá khoá cửa ngách rồi đi vào trong nhà. Khi vào nhà, T đi qua khu vệ sinh, nhà bếp và phòng khách nhưng không quan sát thấy tài sản gì giá trị. T đi đến phòng ngủ tại tầng 1 của vợ chồng anh V, dùng tay mở cửa thấy mở được nên T vào trong phòng. Quan sát thấy trong phòng này có 01 giường ngủ, 01 bàn trang điểm và 01 tủ quần áo. T đi đến vị trí bàn trang điểm, kéo ngăn kéo ra thì phát hiện có hộp nhỏ bên trong có 01 nhẫn bằng kim loại, màu bạc và 01 đôi hoa tai bằng kim loại, màu vàng. T cầm chiếc nhẫn và đôi hoa tai này đút vào túi áo rồi tiếp tục tìm kiếm trong tủ quần áo phát hiện 01 chiếc két sắt được kê ở ngăn tủ dưới cùng bên phải. T lấy chiếc chăn trên giường mang trải xuống nền nhà rồi dùng hai tay kéo chiếc két sắt ra, đặt nằm ngửa lên chiếc chăn để tránh gây tiếng động lớn trong quá trình phá két sắt. Sau đó, T sử dụng thanh kim loại, thanh xà cầy để cậy phá cửa két sắt. Khi thấy khe cửa két sắt rộng ra, T luồn thanh xà cầy vào khe cửa, lấy thêm chiếc gối hình trái tim trên giường để kê, bọc vào đầu trên của thanh xà cầy rồi sử dụng thanh kim loại sáng màu đập nhiều lần vào đầu xà cầy để xà cầy luồn sâu vào bên trong khe cửa két. T thực hiện những động tác như vậy khoảng 20 phút thì cậy, phá được cửa két sắt. Nhìn vào bên trong két thấy có 06 cọc tiền mệnh giá 500.000đ và 03 cọc tiền mệnh giá 200.000đ, tổng là 360.000.000đ, T cầm toàn bộ số tiền này cho vào túi vải dù. Quan sát thấy trong két còn 01 ngăn nhỏ đựng đồ, T tiếp tục sử dụng tô vit chọc vào khe cửa của ngăn đựng đồ rồi dùng lực cậy bung được cửa của ngăn này ra phát hiện bên trong có 02 túi ni lon màu trắng bên trong túi có 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 04 miếng kim loại vàng SJC và nhiều chiếc hộp bên trên có chữ “Vàng bạc đá quý” trong hộp có 03 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 02 mặt dây chuyền; 02 lắc tay bằng kim loại màu vàng. T lấy toàn bộ số vàng này cho vào túi vải rồi thoát ra khỏi nhà anh V theo lối cũ. T điều khiển xe về nhà qua huyện T và thành phố T, tỉnh Bắc Ninh rồi đi lòng vòng qua các huyện G, huyện Đ và các quận B, quận T, quận H, thành phố Hà Nội để tránh sự truy vết của cơ quan công an. Khi về đến khu vực hồ T, T dừng xe tháo BKS 29E2-194.62 ra rồi lắp BKS 29D2-200.72 vào xe rồi đi về nhà. Sau đó, T mang cất giấu toàn bộ số tài sản trộm cắp được vào két sắt đặt trong phòng ngủ của T. Còn chiếc túi vải dù màu xanh đựng công cụ, phương tiện phạm tội T để tại góc hành lang tầng 2 nhà T

Khoảng 15h10', ngày 24/3/2024, T điều khiển xe mô tô trên một mình mang 04 miếng kim loại vàng SJC đến Cửa hàng vàng “B2", ở địa chỉ số nhà A, T, phường N, quận H, TP Hà Nội bán. Tại cửa hàng, chị Mai Thị T1, sinh năm 1988, HKTT: Số E, ngách I, phố C, phường T, quận Đ, TP Hà Nội (là nhân viên bán hàng), kiểm tra và xác định mỗi miếng vàng có trọng lượng 10 chỉ, tổng là 40 chỉ. Chị T1 có hỏi T về nguồn gốc số vàng thì T nói là vàng của T muốn bán để lấy tiền mặt. Chị T1 đồng ý mua 04 miếng vàng SJC trên và trả cho T 310.000.000đ.

Khoảng 14h30', ngày 25/3/2024, T tiếp tục mang 03 sợi dây chuyền vàng đến Cửa hàng V1, ở số nhà D, phường B, quận H, TP Hà Nội bán. Tại đây, chị Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1973, HKTT: số nhà D, phường B, quận H, TP Hà Nội (là chủ cửa hàng vàng) đã kiểm tra 03 sợi dây chuyền xác định: Có 02 sợi dây chuyền có trọng lượng mỗi sợi 10 chỉ, 01 sợi dây chuyền có trọng lượng 08 chỉ và 02 mặt dây chuyền có trọng lượng mỗi mặt 02 chỉ, tổng cộng là 32 chỉ. Khi đó, T cũng nói với chị Y số vàng này là của T muốn bán để lấy tiền mặt. Chị Y đồng ý mua số vàng trên và trả cho T số tiền 205.800.000đ. Số tiền bán vàng ngày 24/3/2024 và 25/3/2024, T sử dụng chi tiêu cá nhân hết 25.800.000đ, cất 50.000.000đ trong tủ quần áo, số tiền còn để trong két sắt trong phòng ngủ của mình.

Ngày 25/3/2024, bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1951, HKTT: thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T trình báo. Kết quả làm việc với bà Đ1 và những người liên quan xác định: Khoảng 17h30' ngày 21/3/2024, gia đình bà phát hiện bị kẻ gian đột nhập vào nhà anh Nguyễn Thì V, sinh năm 1990 ở thôn L, thị trấn L, huyện T (con trai bà) phá két sắt trộm cắp của 04 miếng vàng SJC (04 cây vàng); 02 dây chuyền vàng 999 có mặt ngọc (mỗi dây 1,2 cây vàng); 01 dây chuyền vàng 999 (0,8 cây); 01 lắc đeo tay vàng 999 (1 cây); 01 lắc đeo tay vàng 999 (4 chỉ); 01 nhẫn vàng 9999 (1 chỉ); 01 đôi hoa tai vàng tây; 01 nhẫn bạc và số tiền 360.000.000đ. Toàn bộ số vàng, bạc và tiền mặt trên là của bà để trong két sắt gửi tại nhà anh V.

Ngày 27/3/2024, T bị bắt theo lệnh bắt bị can để tạm giam. Tiến hành đấu tranh với T, T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, số tài sản mà T trộm cắp được không có chiếc nhẫn vàng loại 01 chỉ như bà Đ1 đã trình bày và T cũng không xác định được ngoài số tài sản đó ra có trộm cắp được tài sản gì khác trong phòng ngủ của anh V hay không. Về phía bà Đ1 có xuất trình 01 hoá đơn mua chiếc nhẫn vàng loại 01 chỉ vào ngày 24/5/2023. Bên cạnh đó, khi khám nghiệm hiện trường vụ án, trong két sắt để tại phòng ngủ của vợ chồng anh V không còn tài sản gì. Do vậy, có căn cứ xác định số tài sản mà bà Đ1 bị mất đúng như bà Đ1 đã trình bày.

Kết quả khám nghiệm hiện trường hồi 19h45' ngày 25/3/2024 xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là gia đình anh Nguyễn Thì V, sinh năm 1990 ở thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (con trai bà Đ1). Hướng Bắc tiếp giáp với nhà ông Nguyễn Năng G. Hướng Nam tiếp giáp với đường dân sinh, liền đến là nhà ông Nguyễn Văn Đ2. Hướng Đông tiếp giáp vị trí nhà bà Nguyễn Thị Đ1 (mẹ anh V). Hướng Tây tiếp giáp với nhà ông Nguyễn Thế Đ3. Nhà được xây dựng 3 tầng, được thiết kế 01 cửa cổng phía Đông Nam dạng cửa 02 cánh bằng kim loại mở vào trong kích thước 2,16 x2,36m trong tình trạng mở. Phía trong cửa bên phải, từ ngoài vào được thiết kế 01 chốt kim loại hình chữ T đang đóng ngang dài 50cm, 01 ống hình tròn nằm ngang có đường kính 2,6cm, dài 8,5cm, cách mặt đất 90cm. Tại cửa bên trái nhìn từ ngoài vào thấy 01 tai khoá cửa cách mặt đất 9cm, 01 chốt dạng chữ T, đẩy ngang cách mặt đất 90cm. Tại mặt ngoài 02 cánh cửa đều có tai khoá cách mặt đất 114 cm. Tất cả các chốt khoá cách mặt đất 114cm, đều trong tình trạng mở. Từ mặt đất vị trí cao 93cm cả hai bên đều được hàn kín. Từ vị trí cao 93cm đến mép trên của cổng được gia cố bằng các thanh kim loại đều nhau có kích thước rộng 4cm. Giữa các thanh kim loại có khe hở là 8cm. Nhà có 01 cửa chính hướng Đông Nam bằng gỗ kích thước 1,8x2,3m trong tình trạng đóng; 01 cửa phụ bằng kim loại hướng T kích thước 2,2x0,86m trong tình trạng mở không có khoá, phía trước nhà là sân lát gạch phẳng kích thước 8x5m. Phía Tây Nam được thiết kế là phòng khách, bàn thờ, treo trên tường phía T, 01 bộ bàn ghế sát phía Tây Nam, 01 kệ tủ bằng gỗ kê sát tường phòng khách. Phía Đông Bắc sát với phòng khách là khu vực sân cầu thang giáp tường phía Đông Bắc. Tại khu vực cầu thang về phía Đ là khu bếp và khu vệ sinh sát cửa phụ bằng kim loại. Tại khu vực cầu thang về phía T là phòng ngủ của anh V có cửa bằng kim loại có gắn kính kích thước 0,8x2,25m trong tình trạng mở. Xem xét phòng ngủ thấy: Phòng có kích thước 3,7x4,5m, tại tường phía T được thiết kế tủ quần áo. Góc tường phía Tay B1 đến Đông Bắc của phòng ngủ có 01 két sắt kích thước 50x38x68cm, nằm ngửa, có nhiều dấu vết cậy phá, móp méo, rách kim loại. Tại vị trí mặt bên trong của két sắt phát hiện thấy có dấu vết cậy, lõm kim loại 1,5cm, có kích thước 1,8x2,4x0,5cm. Cửa két trong tình trạng mở. Phía trong két phát hiện có 02 túi ni lông màu trắng bên trong túi có 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía dưới két bị lật ngửa phát hiện 01 tấm chăn màu xanh. Phía giữa phòng kê 01 chiếc giường bằng gỗ bên trên có đệm, 01 gối hình trái tim. Xem xét chiếc gối này thấy mặt trước và mặt sau gối có vết rách vải để lộ bông, vết to nhất kích thước 2x1cm. Tại vị trí góc giường phía Đông Bắc thấy có 03 hộp nhỏ trên có ghi chữ “Vàng bạc đá quý” đều có đường kính 6,3x2,0cm, đều trong tình trạng mở, bên trong có bông màu trắng; 01 hộp hình tròn màu đỏ, đường kính 5cm, cao 2,8cm, trong tình trạng mở bên trong có bông màu trắng. Góc phía Đông Bắc, Đông Nam của phòng ngủ có kê 01 bàn trang điểm kích thước 10x40x75cm. Phía trên bàn trang điểm có 01 hộp màu trắng, hình vuông kích thước 6x5cm, trên nắp hộp có chữ PNJ trong tình trạng mở, phía trong hộp có đệm bằng vải màu trắng.

* Vật chứng, tài liệu thu giữ:

Khám hiện trường thu: 01 két sắt nhãn hiệu Goodsand kích thước 50x38x6cm tình trạng phần cánh cửa bị hư hỏng do cậy phá; 01 gối hình trái tim màu đỏ, bề mặt có các vết rách vải để lộ bông, vết to nhất kích thước 2x1cm; 01 chăn vải màu xanh dương.

- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T ngày 27/3/2024 thu giữ:

  • + Tại két sắt ở phòng ngủ tầng 2: 01 nhẫn bằng kim loại màu bạc; 02 vòng tay bằng kim loại màu vàng; 01 nhẫn kim loại màu vàng được đóng trong vỉ nhựa màu trắng bên trong có ghi chữ “Vàng rồng Thăng Long 9999; 01 chỉ vàng”; số tiền 800.000.000₫.
  • + Tại tủ quần áo trong phòng ngủ tầng 2: Số tiền 50.000.000đ tiền ngân hàng N.
  • + Tại góc hành lang cầu thang tầng 2: 01 túi vải dù màu xanh bên trong có: 01 biển số xe mô tô 29E2-194.62; 02 thanh kim loại màu trắng dài 50cm rộng 2,5cm hai đầu dẹt; 01 thanh kim loại hình trụ tối màu dài 50cm, một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 thanh kim loại hình trụ tối màu dài 60cm có các đường vân nổi chạy dọc thân, một đầu dẹt; 01 tô vít hai cạnh dài 32cm; 01 tay công vặn ốc bằng kim loại hình chữ L dài 17cm, đầu vặn ốc dài 06cm; 01 con dao, loại dao bầu bằng kim loại dài 30cm, cán bằng gỗ dài 12,5 cm, vỏ bao hình chữ nhật quấn băng dính đen; 01 đôi găng tay bằng vải màu đen.

- Ngày 27/3/2024, T tự nguyện giao nộp: 01 áo bò dài tay màu xám; 01 đôi giày màu trắng xanh; 01 áo khoác gió có mũ chùm đầu, một mặt màu trắng xám, một mặt màu đen sọc trắng ở cánh tay; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen đỏ, BKS 29D2-200.72. T khai nhận đây là phương tiện, quần áo, giấy T mặc và sử dụng khi đi trộm cắp ngày 21/3/2024.

- Dữ liệu camera an ninh tại các địa điểm: Camera an ninh của gia đình anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1966 ở thôn L, thị trấn L, huyện T (camera có góc nhìn về đầu ngõ nhà bà Đ1); camera an ninh nhà anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1990 ở thôn L, thị trấn L, huyện T (camera có góc nhìn ra đường trong thôn L); camera an ninh nhà anh Nguyễn Bá A1, sinh năm 1991 ở số H, đường Â, phường T, quận T, TP Hà Nội (camera hướng ra đường T về nhà); camera an ninh tại cửa hàng vàng “Bảo Tín M”; camera an ninh của cửa hàng vàng “K”. Các dữ liệu này được trích xuất, lưu giữ vào đĩa DVD và in các hình ảnh đối tượng liên quan phục vụ việc điều tra.

* Kết quả giám định, định giá:

  • · Tại bản kết luận giám định số 1292/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Số khung, số máy đóng trên xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển số 29D2-200.72 gửi giám định không bị tẩy xoá, không đóng đục lại. Hàng chữ số JF63E-2134356 đóng trên thân máy và hàng chữ số RLHJF6325HZ111699 đóng trên khung xe là nguyên thuỷ.
  • · Tại bản Kết luận giám định số 1020/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
    • + 01 nhẫn kim loại màu bạc gửi giám định là kim loại bạc (ký hiệu hoá học: Ag) có khối lượng là 0,31 chỉ, Hàm lượng bạc (A) là 85,1%.
    • + 01 vòng tay bằng kim loại màu vàng dạng bẹt gửi giám định là kim loại vàng (ký hiệu hoá học Au) có khối lượng là 04 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,2%.
    • + 01 vòng tay bằng kim loại màu vàng dạng mắt xích gửi giám định là kim loại vàng (ký hiệu hoá học Au) có khối lượng 10 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,9%.
    • + 02 chiếc hoa tai bằng kim loại màu vàng gửi giám định là kim loại vàng (ký hiệu hoá học Au) có khối lượng 0,66 chỉ; hàm lượng vàng (A) là 71,1%.
    • + 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng được đóng trong vỉ nhựa màu trắng, bên trong có ghi chữ “Vàng rồng Thăng Long 9999 01 chỉ vàng” gửi giám định là kim loại vàng (ký hiệu hoá học Au) có khối lượng là 01 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,99%.
  • Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL-ĐGTSTTHS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự UBND huyện T kết luận:
    • - 01 két sắt nhãn hiệu GOODSAND trị giá 850.000đ.
    • - 01 nhẫn kim loại bạc (A) có khối lượng 0,31 chỉ, hàm lượng bạc (A) là 85,01%, trị giá 120.000đ.
    • - 01 vòng tay dạng bẹt bằng kim loại vàng (Au), có khối lượng là 04 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,2%, trị giá 26.800.000đ.
    • - 01 vòng tay dạng mắt xích bằng kim loại vàng (Au), có khối lượng là 10 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,9%, trị giá 68.000.000đ.
    • - 02 chiếc hoa tai bằng kim loại vàng (Au) có khối lượng 0,66 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 71,1%, trị giá 3.234.000đ.
    • - 04 miếng vàng (A2) SJC, mỗi miếng có khối lượng là 10 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,99%, trị giá 316.000.000đ.
    • - 02 dây chuyền bằng kim loại vàng (Au), mỗi sợi có khối lượng 10 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,9%, trị giá 136.000.000đ.
    • - 02 mặt dây chuyền bằng kim loại vàng (Au), mỗi mặt có khối lượng 02 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,9%, trị giá 27.200.000đ.
    • - 01 dây chuyền bằng kim loại vàng (Au), có khối lượng 08 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,9%, trị giá 54.400.000đ.
    • - 01 nhẫn bằng kim loại vàng (Au), có khối lượng 01 chỉ; Hàm lượng vàng (A) là 99,99%, trị giá 7.900.000₫.
    • Tổng trị giá của số vàng, bạc trên là 639.654.000đ.
    • Tổng trị giá tài sản mà T trộm cắp là 999.654.000đ.

* Kết quả cho T xem lại các đoạn camera đã thu giữ xác định:

Người đàn ông xuất hiện trong các đoạn camera là T từ khi điều khiển xe mô tô đi vào ngõ nhà anh V đột nhập vào nhà trộm cắp rồi đi ra ngõ, trên đường về nhà và là hình ảnh T mang vàng đến cửa hàng B2, cửa hàng V1 để bán.

*Ngày 10/4/2024, Cơ quan điều đã tiến hành cho Đặng Quốc T thực nghiệm lại hành vi trộm cắp. Kết quả:

T đã thực hiện lại hành vi phá khoá cổng, cửa ngách đột nhập vào nhà rồi thực hiện việc phá két sắt trộm cắp tài sản như đã nêu ở trên.

* Kết quả xác minh và xử lý tài sản có liên quan:

  • - Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 29D2-200.72 đăng ký và thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952 (mẹ đẻ T). Kết quả tra cứu: Chiếc xe này không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Làm việc với bà C và kết quả đấu tranh với T xác định: Sau khi T mượn được chiếc xe trên của bà C, T đã tháo chiếc BKS 99D2-200.72 ra rồi lắp chiếc BKS 29E2-194.62 vào sử dụng làm phương tiện trộm cắp. Khi mượn, T không nói và bà C không biết việc T sử dụng chiếc xe này làm phương tiện phạm tội. Ngày 12/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà C là phù hợp
  • - Chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, được đóng trong vỉ nhựa màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của T là tài sản sản hợp pháp của chị Nguyễn Kim A, sinh năm 1991 (vợ của T). Ngày 12/6/2024, Cơ quan đã trả lại cho chị Kim A chiếc nhẫn kim loại trên là phù hợp
  • - Xác minh về chiếc BKS 29E2-194.62 xác định: Đây là biển số của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu hồng, đăng ký xe mang tên Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1982, HKTT: số A, ngõ T, phường T, quận Đ, TP Hà Nội. Làm việc với anh T3 xác định: Năm 2018, anh bị rơi mất chiếc BKS 29E2-194.62, sau đó anh đã làm thủ tục xin cấp lại và lắp BKS được cấp lại vào xe sử dụng cho đến nay. Đối với chiếc BKS Cơ quan điều tra thu giữ anh T3 đề nghị không nhận lại
  • - Kết quả làm việc với chị Nguyễn Thị Hoàng Y (chủ cửa hàng V1) và chị Phạm Thị Ngọc D, sinh năm 1992, HKTT: B4A13 Y, phường T, quận Đ, TP Hà Nội (chủ cửa hàng vàng B2) xác định: Số vàng mua được của T đều được giao lại cho bộ phận chế tác để gia công lại bán ra thị trường. Hiện nay, số vàng đó không xác định được cửa hàng đã bán cho ai nên Cơ quan điều tra không thu giữ được

* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • - Về xử lý vật chứng: Ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại bà Đ1: 01 chiếc nhẫn bạc; 02 chiếc lắc đeo tay vàng 999; 02 chiếc hoa tai vàng tây; 01 chiếc chăn vài màu xanh dương; 01 chiếc gối hình trái tim màu đỏ; 01 chiếc két sắt nhãn hiệu GOODSAND và số tiền 850.000.000₫
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ngày 08/6/2024, chị Nguyễn Kim A, sinh năm 1991 (là vợ của T) đã bồi thường cho bà Đ1 số tiền 52.000.000đ. Đến nay, bà Đ1 không yêu cầu gì về việc bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho T

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 99/CT-VKSBN-P2 ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Đặng Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội.

Bà Đ1 là bị hại trong vụ án trình bày: Trưa ngày 21/3/2024, T đã phá khoá cửa đột nhập vào nhà con trai bà trộm cắp số tài sản của bà như đã nêu ở trên, tổng trị giá là 999.654.000đ. Đến nay, toàn bộ số tài sản và tiền mà T trộm cắp đã được Cơ quan điều tra trả lại và gia đình T bồi thường đầy đủ cho bà. Bà không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Người liên quan chị Nguyễn Kim A là vợ bị cáo T trình bày: Chị đã nhận lại chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, được đóng trong vỉ nhựa màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở và sau khi sự việc sảy ra chị đã bồi thường cho bà Đ1 số tiền 52.000.000đ, nay không yêu cầu T phải trả lại số tiền trên. đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Bà Nguyễn Thị C là mẹ của bị cáo T trình bày: bà là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 29D2-200.72, ngày 21/3/2024 T mượn xe mô tô của bà nhưng không nói là sử dụng vào việc trộm cắp tài sản, ngày 12/6/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà chiếc xe trên, bà không có yêu cầu gì, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị HĐXX tuyên bố Đặng Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đặng Quốc T từ 12 năm đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/3/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận được lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những tài sản không còn giá trị sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội.

Người bào chữa của bị cáo tham gia tranh luận: Về hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo T đã rõ ràng, đã được bị cáo khai nhận thành khẩn tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, do vậy Viện kiểm sát truy tố và Toà án đưa ra xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13h30' ngày 21/3/2024, Đặng Quốc T đã có hành vi sử dụng xà cầy, các thanh kim loại, tô vít phá khoá cửa cổng, cửa ngách đột nhập vào gia đình anh Nguyễn Thì V ở thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, T đã phá khoá chiếc két sắt để trong phòng ngủ của vợ chồng anh V trộm cắp số tài sản mà bà Nguyễn Thị Đ1 (mẹ đẻ anh V) gửi để trong két sắt gồm: 04 miếng vàng SJC (04 cây vàng); 02 dây chuyền vàng 999 có mặt ngọc (mỗi dây 1,2 cây vàng); 01 dây chuyền vàng 999 (0,8 cây); 01 vòng đeo tay vàng 999 (1 cây); 01 vòng đeo tay vàng 999 (4 chỉ); 01 nhẫn vàng 9999 (1 chỉ); 01 đôi hoa tai vàng tây; 01 nhẫn bạc và số tiền 360.000.000đ. Tổng giá trị tài sản mà T trộm cắp là 999.654.000đ. Đến nay, toàn bộ số tài sản và tiền mà T trộm cắp đã được Cơ quan điều tra trả lại và gia đình T bồi thường đầy đủ cho bà Đ1. Do vậy có đủ căn cứ để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là phù hợp, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, cần phải xét xử kịp thời và có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Xét tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhe: Quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử nhiều lần về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó ra làm bài học cho bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo, răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo nên HĐXX xét thấy có thể áp dụng mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không giải quyết.

[5]. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy những tài sản không còn giá trị sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội, cụ thể: 01 túi vải dù màu xanh; 01 biển số xe máy 29E2-194.62; 02 thanh kim loại màu trắng, dài 50cm, rộng 2,5cm, hai đầu dẹt; 01 thanh kim loại, hình trụ, tối màu, dài 50 cm, một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 thanh kim loại, hình trụ, tối màu, dài 60cm, có các đường vân nổi chạy dọc thân, một đầu dẹt; 01 tô vít hai cạnh, dài 32cm; 01 tay công vặn ốc bằng kim loại, hình chữ L. dài 17cm, đầu vặn ốc dài 06cm; 01 con dao bầu, bằng kim loại, dài 30cm, cán bằng gỗ, dài 12,5cm; 01 vỏ bao hình chữ nhật, quấn băng dính đen; 01 đôi găng tay bằng vải, màu đen; 01 áo bò dài tay, màu xám; 01 đôi giày, màu trắng xanh; 01 áo khoác gió, có mũ trùm đầu, một mặt màu trắng xám, một mặt màu đen sọc trắng ở cánh tay.

[6]. Về các vấn đề liên quan đến vụ án:

Chị Mai Thị T1 (nhân viên cửa hàng B2) và chị Nguyễn Thị Hoàng Y (chủ cửa hàng V1) là những người đã mua số vàng do T trộm cắp được mà có. Tuy nhiên, khi mua số vàng trên, T nói là vàng của T nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị T1 và chị Y là đúng quy định.

Ngày 21/3/2024, T có hành vi sử dụng biển số xe không đúng với giấy đăng ký xe đã vi phạm điểm c, khoản 2 Điều 17, Nghị Định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ và có hành vi cậy phá làm hư hỏng chiếc két sắt với trị giá tài sản bị hư hỏng 850.000đ, bản thân T chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này và chưa bị kết án về tội quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự. Cơ quan điều tra Công an tỉnh B có công văn đề nghị Công an huyện T xử phạt hành chính đối với T về các hành vi trên là đúng quy định.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt:

    Đặng Quốc T 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 27/3/2024. Tiếp tục duy trì Quyết định tạm giam số 108/2024/HSST-QĐTG ngày 09/8/2024 đối với Đặng Quốc T để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những tài sản không còn giá trị sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội, cụ thể: 01 túi vải dù màu xanh; 01 biển số xe máy 29E2-194.62; 02 thanh kim loại màu trắng, dài 50cm, rộng 2,5cm, hai đầu dẹt; 01 thanh kim loại, hình trụ, tối màu, dài 50 cm, một đầu dẹt, một đầu nhọn; 01 thanh kim loại, hình trụ, tối màu, dài 60cm, có các đường vân nổi chạy dọc thân, một đầu dẹt; 01 tô vít hai cạnh, dài 32cm; 01 tay công vặn ốc bằng kim loại, hình chữ L. dài 17cm, đầu vặn ốc dài 06cm; 01 con dao bầu, bằng kim loại, dài 30cm, cán bằng gỗ, dài 12,5cm; 01 vỏ bao hình chữ nhật, quấn băng dính đen; 01 đôi găng tay bằng vải, màu đen; 01 áo bò dài tay, màu xám; 01 đôi giày, màu trắng xanh; 01 áo khoác gió, có mũ trùm đầu, một mặt màu trắng xám, một mặt màu đen sọc trắng ở cánh tay.
  4. (Vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 127/2024 ngày 07/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh)

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đình Hanh      Nguyễn Văn Kỹ Đỗ Văn Đại
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng QUốc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger