Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 115/2025/HSST

Ngày: 10 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Trịnh Thị Tuyết .
  2. Ông: Nguyễn Bính .

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Chu Đức Thọ, Kiểm sát viên.

Ngày 09, ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị P (Tên gọi khác: Ba Đ), giới tính: Nữ, sinh năm 1976 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông: Nguyễn B (đã chết); con bà: Lê Thị H, sinh năm 1952; chồng: Lê Khải T, sinh năm 1978; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 29 tháng 3 năm 2024, đến ngày 18 tháng 10 năm 2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho “Bảo lĩnh” “có mặt”.

2. Đinh Thị Phượng E, giới tính: Nữ, sinh năm 1971 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Đinh Hớn (đã chết); con bà: Nguyễn Thị L (đã chết); chồng: Trần Văn T1, sinh năm 1972; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

3. Nguyễn Thị Trung T2, giới tính: Nữ, sinh năm 1974 tại tỉnh Bình Thuận. ĐKNKTT: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn T3 (đã chết); con bà: Trần Thị Ơ, không rõ năm sinh; chồng: Phạm Chí M, sinh năm 1970; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

4. Lê Thị L1, giới tính: Nữ; sinh năm 1972 tại tỉnh Ninh Thuận. ĐKNKTT: khu phố G, phường B, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 1/12; nghề nghiệp: làm thuê; con ông: Lê Văn B1, sinh năm 1952; con bà: Lê Thị H2, sinh năm 1955; chồng: Trần T4, sinh năm 1964; con: có 05 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

5. Nguyễn Thị N, giới tính: Nữ; sinh năm 1980 tại tỉnh Bình Thuận. ĐKNKTT: khu phố E, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: nội trợ; con ông: Nguyễn P (đã chết); con bà: Dương Thị Đ1, không rõ năm sinh; chồng: Đỗ Văn T5, sinh năm 1977; con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

6. Lê Thị Ánh T6, giới tính: Nữ, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Thuận. ĐKNKTT: thôn V, xã H, H, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: nội trợ; con ông: Lê Bá H1, sinh năm 1970; con bà: Phạm Thị D, sinh năm 1970; chồng: Trần Xuân T7, sinh năm 1992; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự và nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

7. Trần Thị Mỹ L2, giới tính: Nữ, Sinh năm 1971 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: nội trợ; con ông: Trần Văn T8 (chết); con bà: Trần Thị L3 (đã chết); chồng: Trần Văn D1, sinh năm 1970; con: có 01 người, sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự và nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

8. Lê Thị Kim H2 (Tên gọi khác: M1), giới tính: Nữ; sinh năm 1981 tại tỉnh Bình Thuận. ĐKNKTT: khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 2/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Lê Đình H3, sinh năm 1954; con bà: Nguyễn Thị T9, sinh năm 1958; chồng: Nguyễn Ngọc T10, sinh năm 1981; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự và nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt” “có mặt”.

9. Mai Thị Mỹ K (Tên gọi khác: G), giới tính: N1, sinh năm 1972 tại tỉnh Bình Thuận. ĐKNKTT: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: buôn bán; con ông: Mai Văn N2 (đã chết); con bà: Trương Thị K1, sinh năm 1956; chồng: Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1969; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự và nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

10. Trần Thị T11, giới tính: Nữ, sinh năm 1987 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông: không rõ; con bà: Trần Thị H4, sinh năm 1963; chồng: không rõ; con: có 01 người, sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự và nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 02/2024, Nguyễn Thị P bắt đầu hoạt động tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài Tứ sắc được thua bằng tiền tại nhà của P ở địa chỉ B, đường L thuộc khu phố C, phường P, thành phố P cho các con bạc đến chơi nhằm thu tiền xâu. Để tổ chức hoạt động đánh bạc, P là người chuẩn bị mền, các bộ bài Tứ sắc, cắc nhựa (phỉnh), phục vụ đồ ăn, nước uống cho các con bạc đến chơi tại phòng khách trong nhà của P. Hàng ngày, P bắt đầu tổ chức cho các con bạc đến đánh bạc từ lúc 09 giờ và kết thúc lúc 17 giờ cùng ngày.

Hình thức đánh bạc, cách thức thu tiền xâu tại sòng bài do P tổ chức như sau: Mỗi ván bài gồm có 04 tụ (04 người tham gia chơi), thắng thua tính theo ván, mỗi ván bài có 01 người thắng, 03 người còn lại phải chung chi tiền cho người thắng bài. Tùy vào kết quả ván bài mà số tiền chung chi sẽ khác nhau, khi có người thắng tới “chơn” thì 03 người còn lại mỗi người thua phải chung cho người thắng số tiền là 10.000 đồng, tổng số tiền người thắng nhận là 30.000 đồng; nếu trong ván bài đó người thắng có 04 cây giống nhau (tới “quan”) thì 03 người còn lại mỗi người đưa cho người thắng số tiền là 20.000 đồng, tổng số tiền người thắng nhận là 60.000 đồng. Trước khi bắt đầu đánh bạc, các con bạc phải bỏ tẩy số tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trên chiếu bạc để bắt đầu đánh bạc. Quá trình đánh nếu con bạc thua hết số tiền 500.000 đồng thì sẽ tiếp tục bỏ vào sòng số tiền 500.000 đồng để tham gia chơi tiếp.

Cách thức thu tiền xâu tại sòng bạc trên như sau: Khi các con bạc đến nhà của Nguyễn Thị P để tham gia chơi đánh bạc thì P bán các cắc nhựa (phỉnh) cho những người tham gia chơi đánh bạc. Tại sòng bạc của P có 02 loại phỉnh, 01 loại phỉnh tương tương số tiền 2.000 đồng/1 cái và 01 loại phỉnh tương đương số tiền 4.000 đồng/1 cái. Khi tham gia đánh bạc, cứ mỗi ván bài con bạc nào thắng thì sẽ bỏ 01 phỉnh vào cái rổ để sẵn gần sòng bạc, đến khi kết thúc thì P thu lại các phỉnh trên.

Như thường lệ, vào sáng ngày 28 tháng 3 năm 2024, P gọi điện cho các con bạc gồm: Trần Thị T11; Trần Thị Mỹ L2; Mai Thị Mỹ K; Lê Thị Kim H2, Nguyễn Thị Trung T2, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6 đến nhà P để đánh bạc. Do Lê Thị Ánh T6 đang đi khám thai nên nói với P và những người khác đánh bạc trước, khám xong T6 sẽ đến chơi sau. Tại nhà P lúc này còn có Nguyễn Thị N là hàng xóm đến chơi, phụ giúp việc nhà cho P.

Khoảng hơn 10 giờ ngày 28 tháng 3 năm 2024, thì T11, L2, K, H2, T2 đến nhà P nên P chuẩn bị mền, bài, cắc nhựa để 04 con bạc này đánh bạc với nhau trước với số tiền bỏ tẩy trên sòng là 1.000.000 đồng, cắc nhựa giá 4.000 đồng/cắc. Khi 04 con bạc trên đang đánh thì Phượng E, T2 và Lê Thị L1 đến nhà của P để tham gia đánh bạc (Lệ tự đến). Do lúc này T6 chưa về tham gia đánh bạc kịp, vì muốn có thêm sòng đánh bạc để thu tiền xâu nên P đã lấy số tiền 500.000 đồng ra bỏ tẩy và nhờ Năm đánh bạc cùng với T2, Phượng E, L1 nhằm mục đích chờ T6 đến tham gia cùng đánh bạc. Các con bạc Phượng E, T2, L1 cùng bỏ tẩy mỗi người 500.000 đồng, P chuẩn bị mền, bài, cắc nhựa với giá 2.000 đồng/cắc rồi Phượng E, T2, L1, Năm cùng nhau đánh bài Tứ sắc ăn tiền với nhau.

Khi 08 con bạc trên đang đánh bạc tại nhà của P thì có Trần Thị Kim D2 (sinh năm 1979, trú tại khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) là hàng xóm của P đến nhà chơi và xem các con bạc đánh bạc với nhau.

Quá trình đánh bạc giúp P, do mắt Năm kém và không thường xuyên chơi bài Tứ sắc nên bị thua 02 ván, sợ tiếp tục bị thua nên N gọi P đến ngồi vào chơi thay cho N. P đến đánh bạc với các con bạc Phượng E, T2, L1 khoảng 10 phút, đến khoảng hơn 11 giờ thì T6 đến nhà P, lúc này tại vị trí bỏ tẩy của P còn 300.000 đồng thì P đưa bài cho T6 đánh. Tuyết tham gia đánh bạc được khoảng 10 phút thì Đội Phòng ngừa, điều tra tội phạm về tệ nạn xã hội và mua bán người, Phòng C Công an tỉnh B ập vào bắt quả tang, thu giữ các tang vật liên quan.

Vật chứng của vụ án:

Thu giữ tại chiếu bạc do các con bạc Phượng Em, T2, L1, N, T6, P tham gia đánh bạc gồm:

  • - Số tiền 370.000 đồng, số tiền thu xâu 135.000 đồng (trên chiếu bạc);
  • - 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 dĩa nhựa, 36 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng;
  • - Thu giữ của Đinh Thị P1 Em: 01 điện thoại di động hiệu N3, số tiền 1.600.000 đồng;
  • - Thu giữ của Lê Thị L1: 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số Seri: 5D6985F6G62H8HBE, số tiền 2.155.000 đồng;
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị Trung T2: 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL, IMEI: 358044841353804, số tiền 4.150.000 đồng;
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị P: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6;
  • - Thu giữ của Lê Thị Ánh T6: 01 điện thoại di động hiệu S, số tiền 2.200.000 đồng;

Thu giữ tại sòng bạc do các con bạc Khá, H4, T11, L2 tham gia đánh bạc gồm:

  • - Số tiền 2.360.000 đồng;
  • - 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 dĩa nhựa, 52 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng.
  • - Thu giữ của Mai Thị Mỹ K: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58, số IMEI 1: 865039065611032, số IMEI 2: 865039065611024, số tiền 10.000.000 đồng;
  • - Thu giữ của Lê Thị Kim H2: 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, số IMEI 1: 865545051928719, số IMEI 2: 865545051928701, số tiền 3.160.000 đồng;
  • - Thu giữ Trần Thị T11: 01 điện thoại di động hiệu S, số IMEI 1: 355870668198275, số IMEI 2: 357848358198274, số tiền 1.880.000 đồng;
  • - Thu giữ Trần Thị Mỹ L2: 01 điện thoại di động hiệu S, số tiền 6.170.000 đồng;

Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ trong nhà của Nguyễn Thị P 46 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng.

Quá trình điều tra, xác định hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài Tứ sắc ăn thua bằng tiền của các con bạc như sau:

Tại chiếu bạc thứ nhất:

1. Nguyễn Thị P: P bỏ tẩy số tiền 500.000 đồng và nhờ Nguyễn Thị N đánh bạc với Đinh Thị Phụng E1, Nguyễn Thị Trung T2, Lê Thị L1 và trực tiếp tham gia đánh 02 ván với T2, Em, L1, sau đó nhường lại tụ đánh bạc cho Lê Thị Ánh T6 để T6 tham gia đánh bạc với T2, Em, L1. Khi đánh P thua 200.000 đồng, còn lại 300.000 đồng trên chiếu bạc thì bị bắt quả tang.

2. Lê Thị L1: L1 mang theo số tiền 2.500.000 đồng đến nhà của P để tham gia đánh bạc đánh bài Tứ sắc, L1 đã bỏ tẩy số tiền 500.000 đồng để tham gia đánh bạc với Em, T2, N, T6, P. Lúc bị bắt quả tang L1 bị thua, còn lại số tiền 2.155.000 đồng thì bị bắt quả tang.

3. Đinh Thị Phượng E: Em mang theo số tiền 1.250.000 đồng đến nhà của P nhằm mục đích sử dụng để đánh bạc, đã sử dụng 500.000 đồng bỏ tẩy để đánh bạc cùng P, T2, L1, T6, Năm. Lúc bị bắt quả tang thắng được 350.000 đồng, bị thu giữ số tiền 1.600.000 đồng.

4. Nguyễn Thị Trung T2: T2 mang theo 4.500.000 đồng đến nhà của P để sử dụng đánh bạc, đã bỏ tẩy số tiền 500.000 đồng để tham gia đánh bạc với E, N, T6, L1, P. Khi bị bắt quả tang T2 bị thu giữ số tiền 4.150.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ nhất: Với hình thức đánh bạc như trên, được xác định đây là hình thức nhiều người cùng đánh bạc với nhau. Do đó tất cả các con bạc P, L1, Em, T2 cùng phải chịu trách nhiệm chung đối với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc bao gồm: 370.000 đồng (thu trên chiếu bạc)+ 135.000 đồng (tiền xâu trên chiếu bạc) + số tiền các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: 500.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của P) + 1.600.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của Em) + 2.500.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của của L1) + 4.500.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của T2) = 9.605.000 đồng. Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N dù không bỏ tiền ra để tham gia đánh bạc nhưng có hành vi đánh bạc với các con bạc khác giúp Nguyễn Thị P nên cũng phải chịu trách nhiệm chung với Nguyễn Thị P đối với số tiền dùng đánh bạc là 9.605.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ hai:

1. Mai Thị Mỹ K: K mang theo số tiền 12.000.000 đồng, K lấy số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bài Tứ sắc ăn tiền. Tại chiếu bạc, K bỏ tẩy số tiền 1.000.000 đồng để tham gia đánh bài Tứ sắc ăn tiền nhiều ván với H2, T11, L2. Thời điểm bị bắt quả tang, Cơ quan Công an thu giữ của Khá số tiền 10.000.000 đồng.

2. Lê Thị Kim H2: H2 mang theo số tiền 3.360.000 đồng để tham gia đánh bạc. Tại chiếu bạc, H2 bỏ tẩy 1.000.000 đồng để đánh bài Tứ sắc ăn tiền nhiều ván với K, L2, T11. Khi bị lực lượng công an vào bắt quả tang H2 bị thu giữ số tiền 3.160.000 đồng.

3. Trần Thị Mỹ L2: L2 mang theo số tiền 7.000.000 đồng, L2 lấy số tiền 1.000.000 đồng để tham gia đánh bài Tứ sắc ăn tiền. Tại chiếu bạc, L2 bỏ tẩy số tiền 1.000.000 đồng để tham gia đánh bài Tứ sắc ăn tiền nhiều ván với H2, T11, K. Thời điểm bị bắt quả tang, L2 thua 830.000 đồng, còn lại 170.000 đồng và bị Cơ quan Công an thu giữ cùng số tiền 6.000.000 đồng.

4. Trần Thị T11: T11 mang theo số tiền 2.100.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bắt đầu vào chơi Thanh sử dung số tiền này bỏ tẩy 1.000.000 đồng để đánh ai Tứ sắc ăn tiền nhiều ván với L2, H4, K. Thời điểm bị bắt quả tang, T11 bị Cơ quan điều tra thu giữ của số tiền 1.880.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ hai: Với hình thức đánh bạc như trên, được xác định đây là hình thức nhiều người cùng đánh bạc với nhau. Do đó tất cả các con bạc Khá, H2, L2, T11 cùng phải chịu trách nhiệm chung đối với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc bao gồm: 2.360.000 đồng (thu trên chiếu bạc) + số tiền các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: 3.360.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của H2) + 2.100.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của T11) + 1.000.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của của L2) + 2.000.000 đồng (tiền dùng đánh bạc của K) = 10.820.000 đồng.

Tổng số tiền dùng đánh bạc của 02 chiếu bạc là 9.605.000 đồng + 10.820.000 đồng = 20.425.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

Số tiền thu giữ trên chiếu bạc và số tiền thu giữ trên người các con bạc sử dụng để đánh bạc gồm: Số tiền 370.000 đồng, số tiền thu xâu 135.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất); Số tiền 2.360.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc thứ hai); số tiền 1.600.000 đồng (thu giữ của Đinh Thị P1 Em); số tiền 2.155.000 đồng (thu giữ của Lê Thị L1); số tiền 4.150.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Thị Trung T2); số tiền 1.880.000 đồng (thu giữ của Trần Thị T11); số tiền 170.000 đồng (thu giữ của Trần Thị Mỹ L2); số tiền 3.160.000 đồng (thu giữ của Lê Thị Kim H2). Tổng cộng là 15.980.000 đồng và số vật chứng liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc gồm: 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 dĩa nhựa, 36 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng (thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất); 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 dĩa nhựa, 52 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng (thu giữ tại chiếu bạc thứ hai); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của Đinh Thị P1 Em; 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Chung T12; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 thu giữ của Mai Thị Mỹ K; 01 điện thoai di động hiệu OPPO Reno 5 thu giữ của Lê Thị Kim H2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Thị T11; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Thị Mỹ L2; 46 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng thu giữ trong nhà của Nguyễn Thị P. Viện Kiểm sát thành phố P đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự để bảo quản, chờ xử lý.

Đối với số tiền còn lại và các tài sản liên quan thu giữ của các con bạc nêu trên, quá trình điều tra không có căn cứ để chứng minh các đối tượng đã sử dụng hoặc sẽ dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại cho các chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị P đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ Luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị P, Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng:

Đối với bị cáo P: điểm a, b khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: 12 đến 18 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: phạt tiền bị cáo Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị N từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, n khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: phạt tiển bị cáo Lê Thị Ánh T6 từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng và đề nghị xử lý vật chứng.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: các bị cáo nhận thấy hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 28 tháng 3 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị P có hành vi sử dụng nhà của bị cáo ở địa chỉ B đường L thuộc khu phố C, phường P, thành phố P chuẩn bị các vật dụng gồm: bài Tứ sắc, mền, cắc nhựa, bạt, phục vụ đồ ăn, nước uống để tổ chức cho 02 chiếu bạc tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài Tứ sắc được thua bằng tiền với tổng số tiền là 20.425.000 đồng để thu tiền xâu gồm:

Tại chiếu bạc thứ nhất: các bị cáo Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E2, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N và bản thân bị cáo Nguyễn Thị P đánh bạc với số tiền dùng đánh bạc là 9.605.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại chiếu bạc thứ hai: các bị cáo Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 đánh bạc với số tiền dùng đánh bạc là 10.820.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị P, Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đối với bị cáo Nguyễn Thị P đủ yếu tố cấu thành tội “tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ Luật Hình sự và tội “đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự. Đối với các bị cáo Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị Thanh Đ3 yếu tố cấu thành tội “đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Do đó, Bản cáo trạng số 07/CT-VKSPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Thị P đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 322 Bộ Luật Hình sự và tội “đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.

Các bị cáo Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nhưng các bị cáo vẫn tham gia, bị cáo P dùng nhà bị cáo để tổ chức đánh bạc nhằm thu lợi bất chính.

Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh của xã hội ở cộng đồng dân cư và dễ dẫn đến làm phát sinh những tiêu cực khác, nên cần xử phạt mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên toà cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo phương đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có đơn xác nhận của địa phương) và có dì ruột ruột là người có công với cách mạng bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Các bị cáo E, T13, L1, Năm, T6, L2, H2, K, T11 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Đối với bị cáo T6 phạm tội trong thời gian mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy đối với bị cáo P dùng nhà bị cáo và chuẩn bị vật dụng cho các con bạc tham gia đánh bạc để hưởng lợi tiền xâu từ các con bạc nên bị cáo P phải chịu trách nhiệm chính đối với tội “Tổ chức đánh bạc” và cũng là người tham gia đánh bạc, nên tính chất nguy hiểm của hành vi của bị cáo P nguy hiểm hơn các bị cáo khác trong cùng vụ án. Do đó, cần xử phạt bị cáo P với mức án nghiêm và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự nên cần xem xét xử phạt bị cáo P ở mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước mà an tâm cải tạo, sớm về đoàn tụ với gia đình. Đối với hành vi phạm tội “Đánh bạc” bị cáo P tham gia với mức độ không đánh kể, do vậy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với các bị cáo Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà thể hiện sự khoan hồng của pháp luật chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản không liên quan đến vụ án cho các bị cáo T6, L2, K, L1 trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận lại tài sản. Do vậy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Phan T14 là đúng theo quy định pháp luật.

Đối với vật chứng gồm 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 đĩa nhựa, 36 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng (thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất); 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 đĩa nhựa, 52 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng (thu giữ tại chiếu bạc thứ hại), 46 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng thu giữ trong nhà của Nguyễn Thị P là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của Đinh Thị P1 Em; 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Trung T2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 thu giữ của Mai Thị Mỹ K; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 thu giữ của Lê Thị Kim H2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Thị T11; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Thị Mỹ L2 là vật chứng liên quan đến vụ án nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc và số tiền thu giữ trên người các con bạc sử dụng để đánh bạc gồm: Số tiền 370.000 đồng, số tiền thu xâu 135.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất); Số tiền 2.360.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc thứ hai); số tiền 1.600.000 đồng (thu giữ của Đinh Thị P1 Em); số tiền 2.155.000 đồng (thu giữ của Lê Thị L1); số tiền 4.150.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Thị Trung T2); số tiền 1.880.000 đồng (thu giữ của Trần Thị T11); số tiền 170.000 đồng (thu giữ của Trần Thị Mỹ L2); số tiền 3.160.000 đồng (thu giữ của Lê Thị Kim H2). Tổng cộng là 15.980.000 đồng là tiền dùng vào đánh bạc nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 01, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ Luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án nhưng được khấu trừ thời tạm giữ từ ngày 29 tháng 3 năm 2024 đến ngày 18 tháng 10 năm 2024.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị P phải nộp số tiền 20.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước về tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 01 Điều 51, Điều 35 Bộ Luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị T11 phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo bị cáo Lê Thị L1 phải nộp số tiền 25.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Trung T13 phải nộp số tiền 25.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Đinh Thị Phượng E phải nộp số tiền 25.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Nguyễn Thị N phải nộp số tiền 20.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Mai Thị Mỹ K phải nộp số tiền 30.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Lê Thị Kim H2 phải nộp số tiền 25.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Trần Thị Mỹ L2 phải nộp số tiền 30.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Xử phạt: Trần Thị T11 phải nộp số tiền 25.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 321, điểm i, s, n khoản 01 Điều 51, Điều 35 Bộ Luật Hình sự.

- Xử phạt: Lê Thị Ánh T6 phải nộp số tiền 20.000.000 đồng vào Ngân sách nhà nước.

* Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 đĩa nhựa, 36 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng (thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất); 01 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 01 rổ màu xanh, 02 đĩa nhựa, 52 cắc bằng nhựa, 01 mền vải, 01 tấm bạt nhựa màu trắng (thu giữ tại chiếu bạc thứ hại), 46 bộ bài tứ sắc chưa sử dụng thu giữ trong nhà của Nguyễn Thị P.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 370.000 đồng, số tiền thu xâu 135.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất); Số tiền 2.360.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc thứ hai); số tiền 1.600.000 đồng (thu giữ của Đinh Thị P1 Em); số tiền 2.155.000 đồng (thu giữ của Lê Thị L1); số tiền 4.150.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Thị Trung T2); số tiền 1.880.000 đồng (thu giữ của Trần Thị T11); số tiền 170.000 đồng (thu giữ của Trần Thị Mỹ L2); số tiền 3.160.000 đồng (thu giữ của Lê Thị Kim H2). Tổng cộng là 15.980.000 đồng. 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị P; 01 điện thoại di động hiệu Nokia thu giữ của Đinh Thị P1 Em; 01 điện thoại di động hiệu MASSTEL màu đen thu giữ của Nguyễn Thị Trung T2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A58 thu giữ của Mai Thị Mỹ K; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 thu giữ của Lê Thị Kim H2; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Thị T11; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Trần Thị Mỹ L2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 102 ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại Ngân hàng Đ4, Chi nhánh B2 - Phòng G1).

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Thị P, Lê Thị L1, Trần Thị Trung T13, Đinh Thị Phượng E, Lê Thị Ánh T6, Nguyễn Thị N, Mai Thị Mỹ K, Lê Thị Kim H2, Trần Thị Mỹ L2, Trần Thị Thanh M2 bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 10 tháng 4 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi bị cáo thường trú;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HSST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 115/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger