Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2025/HS-ST

Ngày 23/10/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Kiều Xuân Mai
  2. Bà Dương Thị Kim Lan

Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên toà: bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23/10/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với:

  1. Bị cáo họ và tên: Lê Bá T, sinh ngày 19/01/1982, tại Thanh Hóa; giới tính: nam; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Lê Bá T1 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Phạm Thị D (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013; Về nhân thân: theo D1 chỉ bản số 2227 lập ngày 30/9/2025 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền sự, có 01 tiền án: Tạ bản án số 76/2023/HSST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày 20/7/2023 (chưa được xóa án tích).
  2. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2025 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt.

  3. Bị hại: Chị Bùi Thị S, sinh ngày 20/11/2007. Nơi cư trú: Thôn L, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin vắng mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Bá L1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: thôn H, xã Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  5. Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Bùi Văn T2, Sinh năm 1980 và bà Bùi Thị N, Sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn L, xã L, tỉnh Phú Thọ. Ông T2 Vắng mặt, bà N có đơn xin vắng mặt
  6. Người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị hại: Bà Chu Thị T3 – Trợ giúp viên pháp lý trung tâm T5 - Chi nhánh số 05 thành phố Hà Nội. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/7/2025 chị Bùi Thị S đến quán "" tại thôn B, xã T, thành phố Hà Nội để thăm chị gái ruột là Bùi Thị H (sinh năm 2005) và anh họ là Bùi Văn T4 (sinh năm 2001), cùng trú tại xóm L, xã L, tỉnh Phú Thọ và S dự định ở lại quán Lẩu T chơi vài hôm. Đến khoảng 22 giờ ngày 04/7/2025, khi hết giờ làm việc tại quán, các nhân viên của quán “Lẩu Thái” gồm anh Bùi Văn T4, chị Bùi Thị H, chị Lường Thị H1 (sinh năm 2006, trú tại xóm H, xã Q, tỉnh Phú Thọ), anh Lê Bá T, anh Nguyễn Văn Q (sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã T, thành phố Hà Nội) cùng Bùi Thị S và một số người khác là bạn của chị H1 tổ chức ăn đồ nướng. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 05/7/2025 tất cả giải tán, chị S do say rượu nên đi lên nhà vệ sinh tại Tầng C của quán " để nôn rồi ngồi lại ngủ gật trong nhà vệ sinh. Anh T4 đưa bạn của chị H1 về phòng nghỉ gần đó, còn lại những người khác dọn dẹp. Sau khi dọn xong, chị H đi ra ngoài chơi, anh T4 và chị H1 đóng cửa quán và lên tầng 3 đỡ chị S từ trong nhà vệ sinh vào phòng VIP2 đặt chị S ngủ trên phản gỗ, kê chăn cho chị S nằm và đắp một chăn khác cho chị S. Sau đó anh T4 và chị H1 nằm ngủ ở phòng VIP1, còn Lê Bá T và anh Nguyễn Văn Q nằm ngủ tại phòng VIP3 trên tầng 3 của quán.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Bá T dậy đi vệ sinh, khi qua phòng VIP2, T biết chị S đang ngủ say do uống rượu nên sau khi đi vệ sinh xong, T nảy sinh ý định quan hệ tình dục với chị S. T mở cửa phòng VIP2 quan sát thấy chị S đang nằm đắp chăn ngủ một mình trên phản gỗ, phòng tắt điện, xung quanh hành lang không có tiếng động, T nghĩ là những người khác ở trong quán đều đã ngủ hết nên T đi vào phòng VIP2 tới chỗ chị S ngủ, kéo người chị S nằm ngửa ra rồi Thành quỳ gối hạ người xuống gần trên người chị S, lấy tay ôm cổ và hôn lên miệng chị S, dí người T vào sát người chị S. T thấy chị S không phản kháng (do say rượu), T kéo quần của chị S xuống rồi thực hiện hành vi quan hệ tình dục với chị S, được khoảng 02 phút thì thấy chị S bị nôn, chớ nên T dừng lại rồi lau miệng cho chị S. Sau đó T ngồi dậy, dùng hai tay kéo quần lót và quần đùi của chị S lên, đồng thời T cũng kéo khóa quần của T lên rồi T tiếp tục ôm sờ soạng trên người chị S.

Anh T4 ở trong phòng VIP1 lo chị S bị nôn do say rượu, anh T4 dùng điện thoại di động kiểm tra camera an ninh trong phòng VIP2 thì thấy T ở trong phòng VIP2 cùng với chị S. Lúc này anh T4 cầm điện thoại di động đi từ phòng VIP1 sang phòng VIP2 soi đèn Flash vào trong phòng thấy T đang ngồi xổm cạnh chân chị S. Thành giật mình đứng dậy, anh T4 hỏi T “Anh làm gì đấy”, T hoảng hốt nói dối “Anh làm gì đâu”, anh T4 tiếp tục hỏi “Vậy anh cởi quần S ra làm gì” thì T không trả lời được và T đi về phòng VIP3. Sau đó chị H1 đi sang phòng VIP2 chỉnh lại quần áo cho chị S, rồi anh T4 và chị H1 cùng nhau đỡ chị S từ phòng VIP2 sang phòng VIP1 ngủ. Đến trưa cùng ngày tỉnh dậy, chị S được anh T4 và chị H cho xem camera, kể lại sự việc Sim ngủ say bị T xâm hại tình dục. Chị S đã báo cho gia đình biết sự việc này và đến chiều cùng ngày, gia đình chị S đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Lê Bá T nhận thức được hành vi phạm tội của mình, sau đó đã đến cơ quan Công an đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng tạm giữ gồm:

  • 01 USB nhãn hiệu FANUC lưu trữ 01 File video ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án.
  • 01 chiếc chăn vải kích thước 2mx2,2m họa tiết hoa văn màu xanh trắng.
  • 01 chiếc chăn vải nhung kích thước 2mx2,2m họa tiết hoa văn màu đỏ.
  • 01 quần dài bằng vải nỉ, màu be vàng.

Tại kết luận giám định xâm hại tình dục số 894 ngày 12/8/2025 của Trung tâm P kết luận đối với Bùi Thị S:

  1. Các kết quả chính:
    1. Tại thời điểm giám định màng trinh có vết rách cũ vị trí 03 giờ, 07 giờ; không có vết sây sát sưng nề bầm tím, lỗ màng trinh hơi giãn có vết trợt niêm mạc ở ngách tiền đình phía dưới hai bên;
    2. Kết luận giám định ADN số 172/114.1 ngày 07/8/2025 của Trung tâm P.
    3. Bản thông báo kết luận giám định Hóa pháp số 17 ngày 12/8/2025 của Trung tâm P.
  2. Kết luận:
    1. Tại thời điểm giám định màng trinh có vết rách cũ vị trí 03 giờ, 07 giờ; không có vết sây sát sưng nề bầm tím, lỗ màng trinh hơi giãn có vết trợt niêm mạc ở ngách tiền đình phía dưới hai bên;
    2. Kết luận giám định ADN số 172/114.1 ngày 07/8/2025 của Trung tâm P:

      Không thu được dữ liệu ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu dịch âm đạo, mẫu lau rửa bộ phận sinh dục ngoài, mẫu lau rửa vùng ngực, mẫu lau rửa vùng bụng, mẫu lau rửa hậu môn của Bùi Thị S, mẫu quần lót mặc ngày 04/7/2025 và mẫu quần lót mặc ngày 05/7/2025 gửi giám định nên không so sánh được ADN nhiễm sắc thể Y của Lê Bá T trên các locus Y-STR đã phân tích.

    3. Bản thông báo kết luận giám định Hóa pháp số 17 ngày 12/8/2025 của Trung tâm P:
      • Không tìm thấy Ethanol trong máu của Bùi Thị S.
      • Không tìm thấy thuốc kích dục Sildenafil, avarnafil, tadalafil, vardenafil và udenafil trong máu của Bùi Thị S.

Tại kết luận giám định xâm hại tình dục số 895 ngày 12/8/2025 của Trung tâm P kết luận đối với Lê Bá T kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    1. Tại thời điểm giám định Lê Bá T có bộ phận sinh dục phát triển bình thường, không có vết sây sát bầm tím.
    2. Kết luận giám định ADN số 173/114.2 ngày 07/8/2025 của Trung tâm P.
    3. Bản thông báo kết luận giám định Hóa pháp số 16 ngày 12/8/2025 của Trung tâm P.
  2. Kết luận:
    1. Tại thời điểm giám định Lê Bá T có bộ phận sinh dục phát triển bình thường, không có vết sây sát bầm tím.
    2. Kết luận giám định ADN số 173/114.2 ngày 07/8/2025 của Trung tâm P:
      • ADN thu được từ mẫu quần be vàng gửi giám định là ADN trộn lẫn của nhiều người, không thể tách rời nên không so sánh được với ADN của Bùi Thị S trên các locus STR đã phân tích.
      • Không thu được ADN của Bùi Thị S từ mẫu lau rửa bộ phận sinh dục, mẫu lau rửa kẽ móng tay của Lê Bá T trên các locus STR đã phân tích.
    3. Bản thông báo kết luận giám định Hóa pháp số 16 ngày 12/8/2025 của Trung tâm P:
      • Không tìm thấy Ethanol trong máu của Lê Bá T.
      • Không tìm thấy thuốc kích dục Sildenafil, avarnafil, tadalafil, vardenafil và udenafil trong máu của Lê Bá T.

Cáo trạng số 86/CT-VKSÐA ngày 30/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 đã Quyết định truy tố bị cáo Lê Bá T về tội: Hiếp dâm theo Khoản 4 Điều 141 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Lê Bá T khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Khi được nói lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt cho xã hội.
  • Anh Lê Bá L1 trình bày: bị cáo đã bảo anh bồi thường cho người bị hại giúp bị cáo. Số tiền 50.000.000 đồng là anh đã vay của bị cáo nên anh xác định trả lại cho bị cáo luôn. Anh không có đề nghị gì về số tiền này.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

    Áp dụng Khoản 4 Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Lê Bá T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù và tổng hợp với hình phạt của bản án trước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại trình bày: bà nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo nhưng đề nghị HĐXX xem xét bị cáo phạm tội lần này là tái phạm, bị cáo đã lợi dụng lúc cháu S không có khả năng tự vệ đã hiếp dâm cháu S, bị cáo phạm tội với cháu S khi chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo với mức hình phạt cao hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề xuất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/7/2025, tại quán " thuộc thôn B, xã T, thành phố Hà Nội, Lê Bá T đã có hành vi lợi dụng khi chị Bùi Thị S (sinh ngày 20/11/2007 - khi bị xâm hại mới 17 tuổi, 7 tháng 15 ngày) đang trong tình trạng say rượu không thể tự vệ được đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn với chị S. Khi T đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện.

Như vậy hành vi của bị cáo Lê Bá T đã phạm tội “Hiếp dâm”, được quy định tại Khoản 4, Điều 141 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.”

[2] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ và làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết được việc xâm phạm vào quyền về danh dự, nhân phẩm của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với vẫn coi thường pháp luật, coi thường đạo đức xã hội, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản của người khác nên bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực để giao cấu trái ý muốn với bị hại. Do đó, để đảm bảo việc giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả tội phạm mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 20/7/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự thì lần phạm tội trước của bị cáo phạm tội do lỗi vô ý về tội phạm nghiêm trọng nên không bị coi là có án tích. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo bị tính là tái phạm nhưng bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của bản án.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình để khắc phục hậu quả do mình gây ra, đã ra đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo ra đầu thú, bị cáo có bác ruột là liệt sỹ do vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội động xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung và do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên hình phạt tù cho hưởng án treo của bản án trước bị chuyển thành thành tù giam và tổng hợp với hình phạt tù của bản án này.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là lao động tự do.

[5] Về phần dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã nhờ em trai bị cáo là anh Lê Bá L1 bồi thường cho người bị hại 50.000.000 đồng. Anh L1 khai số tiền bồi thường bị hại là tiền anh L1 vay của bị cáo nay anh L1 trả lại bị cáo để bị cáo bồi thường cho người bị hại. Bị hại và anh L1 không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an thành phố H, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đề nghị của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại phần nào phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, phần nào không phù hợp thì không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

  • Tuyên bố bị cáo Lê Bá T phạm tội: Hiếp dâm.
  • Căn cứ vào Khoản 4 Điều 141 của Bộ luật hình sự; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 05 (năm) 09 (tháng) tù, về tội Hiếp dâm. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 76/2023/HSST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa nay chuyển thành tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2025.

2. Về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không xem xét giải quyết

Bị cáo Lê Bá T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Bá L1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về phần có liên quan. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ/.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhân:

  • - TANDTP Hà Nội; VKSNDTPHN;
  • - VKSND KV7;
  • - Công an TP Hà Nội
  • - THADS TP Hà Nội;
  • - Sở TP Thành phố Hà Nội;
  • - UBND P. Nghi Sơn; Thịnh Quang Trung
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 23/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về hiếp dâm

  • Số bản án: 115/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn V phạm tội Tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger