Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2025/HS-ST

Ngày: 11/03/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Ông Trần Văn Chánh

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử trực tiếp công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2025/HSST ngày 21/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2025/QĐXXST-HS ngày 24/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng N; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1990, tại tỉnh Kiên Giang.

- Nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang

- Chỗ ở hiện nay: Khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông: Nguyễn Chí H, sinh năm 1965 (còn sống) và bà: Nguyễn Thị Kim B, sinh năm 1967 (còn sống);

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.

Bị cáo hiện đang sống chung như vợ chồng với chị Thạch Thị T, sinh năm 1984 và có 01 người con chung sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12-9-2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Đ (B)

(Bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng N là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 12 giờ ngày 12/9/2024, N điều khiển xe mô tô biển số 70K-69061 đi đến khu vực Bến xe A, thuộc Quận A, thành phố Hồ Chí Minh, mua 02 gói ma túy tổng hợp (01 gói nilon và 01 túi zip) với giá 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) của người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) để sử dụng. Sau đó N cất giấu 02 gói ma túy nêu trên vào trong túi quần Jean bên phải phía trước của N đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô đi về khu vực thành phố B tìm nơi để sử dụng ma túy.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, N đem theo số ma túy trên điều khiển xe mô tô biển số 70K-69061 đi trên Quốc lộ E, thuộc khu phố T, phường P, thành phố B thì bị Công an phường P kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Sau đó, Công an phường P lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng N đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Tại Bản kết luận giám định số: 1816/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

- Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,4023 gam, loại: Methamphetamine

Tại bản cáo trạng số 149/CT-VKSBH ngày 17 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 12/9/2024.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định (trong gói niêm phong số 1816/KL-KTHS ngày 18/9/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ).

- Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng N (chưa rõ nhân thân lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền.

Đối với 01 xe mô tô biển số 70K-69061, Nguyễn Hoàng N khai mượn xe của người có tên Q (chưa rõ nhân thân lai lịch) điều khiển đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định người đứng tên đăng ký xe là ông Chàm D (sinh năm 1969, trú tại tổ A, Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm việc được với ông D và Q, chưa xác định được nguồn gốc chủ sở hữu xe nên tách ra, tiếp tục xác minh xử lý sau.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội và thống nhất với nội dung truy tố của bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái với quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, lời khai của người làm chứng có tại hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Hoàng N khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 ngày 12/9/2024, tại Quốc lộ E, thuộc khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,4023 gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng thì bị Công an phường P phát hiện bắt quả tang lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền; lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; sơ đồ nơi xảy ra sự việc; biên bản xác minh; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Với khối lượng ma túy đã tàng trữ trái phép 2,4023 gam ma túy, loại Methamphetamine được kết luận tại Bản kết luận giám định số: 1816/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ thì hành vi của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung bản cáo trạng số 149/CT-VKSBH ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, cũng có học thức nhất định, biết rõ tác hại của chất ma tuý khi sử dụng cho bản thân, đồng thời nhận biết được hành vi tàng trữ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Từ đó, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, sống thiếu mục đích. Do đó, Hội đồng xét xử cần thiết phải xử phạt một mức án nghiêm, phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Khi lượng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo N thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiển sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng N (chưa rõ nhân thân lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền là có căn cứ.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 70K-69061, Nguyễn Hoàng N khai mượn xe của người có tên Q (chưa rõ nhân thân lai lịch) điều khiển đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định người đứng tên đăng ký xe là ông Chàm D (sinh năm 1969, trú tại tổ A, Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm việc được với ông D và Q, chưa xác định được nguồn gốc chủ sở hữu xe nên tách ra, tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Tich thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy đã thu giữ sau giám định (trong gói niêm phong số 1816/KL-KTHS ngày 18/9/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ).

(được ghi nhận tại Biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).

[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Quan điểm của đại diện Viểm kiểm sát nhân dân thành phố B phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về áp dụng điều luật: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đồi, bổ sung năm 2017); Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/09/2024.

- Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy đã thu giữ sau giám định (trong gói niêm phong số 1816/KL-KTHS ngày 18/9/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ).

(được ghi nhận tại Biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát tỉnh ĐN;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (2);
  • - Thi hành án hình sự (7);
  • - Bị cáo (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đồng Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 115/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 13 giờ 30 ngày 12/9/2024, tại Quốc lộ 51, thuộc khu phố Tân Mai, phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,4023 gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng thì bị Công an phường Phước Tân phát hiện bắt quả tang lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa xử lý theo thẩm quyền;
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger