Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2025/HS-ST

Ngày 13-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Trường

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Mạnh Hùng

Ông Nguyễn Nam Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Phạm Hà Vy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Mai Văn D, sinh ngày 15/8/1971; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Mai Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ Vũ Thị T và có 02 con, tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 43/STHS ngày 18/12/2015 Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 33 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2025, chuyển tạm giam ngày 03/01/2025, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị H1 – Luật sư Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Vũ Thị T, sinh năm 1971; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;
  2. Chị Hồ Thị Y, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng,có mặt;
  3. Anh Mai Đức H2, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ ngày 07/12/2023, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an thành phố H kết hợp với Công an huyện T làm nhiệm vụ tại thôn R, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng phát hiện 01 đối tượng nam giới đi xe mô tô BKS 15H1-282.10 dừng ở khu vực Cống R, thôn R, xã Q, huyện T, Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, đối tượng khai nhận tên là Hoàng Huy H3, sinh năm 1996, đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn N, xã T, huyện T, Hải Phòng. Vật chứng thu giữ của H3: Trong túi quần bên phải Hòa mặc có 06 đoạn ống hút dài khoảng 04cm được hàn kín 02 đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT01); thu trong cốp xe mô tô mà H3 đang sử dụng 01 lọ thuỷ tinh có nắp đậy cao khoảng 07cm, đường kính khoảng 3,5cm trong có 10 đoạn ống hút dài khoảng 04cm được hàn kín 02 đầu, trong có tinh thể màu trắng (mẫu QT02); 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 15H1-282.10; 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng và số tiền 2.670.000đồng.

Hoàng Huy H3 khai nhận: Các ống nhựa chứa ma tuý đá thu giữ của H3 là do Mai Văn D đưa cho H3 bán vào sáng ngày 07/12/2023. Căn cứ lời khai của Hoàng Huy H3, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Văn D, thu giữ:

  • Tại phòng ngủ phía sau, tầng 2:
    • + Thu trong ngăn kéo tủ bàn học tầng hai 01 ví trong có 01 cân điện tử màu trắng, trên bề mặt cân có bám dính tinh thể màu trắng (mẫu KX01);
    • + Thu trong gầm giường 01 hộp gỗ hình chữ nhật kích thước khoảng 35x20x6cm trên bề mặt có bám dính tinh thể màu trắng (mẫu KX02);
    • + Thu trong gầm giường 01 hộp gỗ màu đen hình hộp chữ nhật kích thước 20x20x6 bên trong có 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 18cm được cắt vát một đầu;
  • T1 ở chân cầu thang tầng một 01 hộp kim loại có hình trụ tròn cao khoảng 20cm đường kính khoảng 15cm, bên trong có 01 túi nilon màu trắng có khoá mép, kích thước khoảng 15x10cm trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX03) ;
  • Thu trên nóc loa trong phòng khách tầng một 01 hộp bìa cát tông kích thước khoảng 20x15x06cm, bên trong chứa 100 ống nhựa hình trụ tròn dài khoảng 04cm được hàn kín một đầu.

Tại Kết luận giám định số 1004/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng thu khi bắt quả tang H3 đều là ma túy,

loại Methamphetamine, trong đó: mẫu QT01 có khối lượng 1,75 gam, mẫu QT02 có khối lượng 3,02 gam. Tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Mai Văn D đều là ma túy, loại Methamphetamine, trong đó: mẫu KX01 không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính, mẫu KX02 có khối lượng 0,01 gam, mẫu KX03 có khối lượng 54,83 gam.

Quá trình điều tra Hoàng Huy H3 khai nhận: H3 có mối quan hệ quen biết xã hội với Mai Văn D và biết D có bán ma túy đá. H3 đã nhiều lần mua ma túy đá của D để sử dụng. Cách ngày bị bắt khoảng 01 tuần, D bảo H3 bán ma tuý thuê cho mình và trả công 500.000đồng/01 ngày. Hoà đồng ý. Hàng ngày, H3 đến nhà D vào đầu giờ buổi sáng và đầu giờ buổi chiều để lấy ma tuý D đưa mang đi bán. D đưa cho H3 xe mô tô BKS 15H1-282.10 để H3 sử dụng di chuyển nhận, bán ma túy cho khách. Mỗi lần, D đưa cho H3 10 đoạn ống nhựa có ma tuý đá được hàn kín 02 đầu để bán với giá 300.000đồng/01 ống. Nếu bán ma túy hết sớm thì H3 về nhà D để D đưa thêm ma túy cho bán tiếp. Khách mua ma túy thường liên lạc trực tiếp với D, sau đó D chỉ ra vị trí H3 đứng bán ma túy ở khu vực Cống R, thôn R, xã Q để mua ma túy H3 bán. Tiền bán ma túy trong ngày H3 đưa hết cho D vào buổi tối đồng thời nhận tiền công D trả. Nếu H3 muốn sử dụng ma túy đá, H3 vẫn phải mua của D với giá 300.000đồng/01 ống. H3 nhớ lần gần nhất đã mua ma túy của D 01 ống nhựa có ma túy đá giá 300.000đồng vào tối ngày 05/12/2023.

Hoàng Huy H3 có mối quan hệ quen biết xã hội với Hoàng Xuân N, đã có lần H3 gặp N đến nhà Mai Văn D để mua ma tuý đá. Cụ thể, vào sáng ngày 04/12/2024, H3 đến gặp D để lấy ma túy đá đi bán thì gặp Hoàng Xuân N đến mua của D 01 ống nhựa ma túy đá giá 300.000đồng. Trong thời gian H3 bán thuê ma túy cho Mai Văn D, H3 cũng đã nhiều lần bán ma túy đá cho N nhưng chỉ nhớ được 02 lần gần nhất vào sáng ngày 02/12/2023 và sáng ngày 05/12/2023 mỗi lần H3 bán cho N 01 ống ma túy đá giá 300.000đồng/01 ống tại C, xã Q.

Khoảng 08 giờ sáng ngày 07/12/2023, H3 điều khiển xe mô tô đến nhà D để lấy ma tuý đi bán. D đưa cho H3 10 đoạn ống nhựa chứa ma tuý đá, H3 cho vào lọ thuỷ tinh cất vào trong cốp xe mô tô. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi H3 đang đứng bán ma túy ở C thì Hoàng Xuân N liên lạc với H3 bảo H3 đến nhà N có việc cần nhờ. Hòa đồng ý và điều khiển xe mô tô đến nhà N ở thôn C, xã Q. Tại đây, N đưa cho H3 06 ống nhựa có ma túy đá và bảo H3 bán hộ Nhị với giá 300.000đồng/01 ống. Nhị chưa thỏa thuận với H3 về việc trả công nhưng nếu bán hết ma túy cho N, H3 sẽ đến gặp N để lấy tiền công bán ma túy. Sau khi nhận ma tuý đá của N, H3 quay về vị trí cũ đứng bán ma túy đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì bị lực lượng công an bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Căn cứ lời khai của Hoàng Huy H3, ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Xuân N, thu giữ của Nhị 0,53 gam ma túy đá. Hoàng

Xuân N khai có mối quan hệ quen biết D do D là người cùng xã với N và biết D bán ma tuý đá. Thỉnh thoảng N đến nhà D để mua ma túy để sử dụng. Nhị biết H3 bán thuê ma túy cho D. Sáng ngày 04/12/2023 N đến nhà D để mua ma túy thì gặp H3 ở đang ở nhà D. Nhị mua của D 01 ống ma túy đá giá 300.000đồng đã sử dụng hết. Ngoài ra N có lần N đến mua ma túy của D, D bảo N rằng H3 bán thuê ma tuý cho D ở C, N ra chỗ H3 để H3 bán ma túy cho N. Nhị đã mua ma túy của H3 02 lần, mỗi lần 01 ống ma túy đá giá 300.000đồng vào các ngày 02 và ngày 05/12/2023.

Mai Văn D bỏ trốn, đến ngày 01/01/2025 thì ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Hải Phòng và khai nhận như sau: D bắt đầu bán ma túy từ khoảng tháng 7/2023. D thường mua ma túy đá của người không quen biết ở đường T, quận L, Hải Phòng. D mua từ 500.000-600.000đồng/01 gam ma túy đá, chia nhỏ được khoảng 03-04 ống nhựa nhỏ bán cho khách với giá 300.000đồng/01 ống. Khách mua ma túy thường đến nhà D để mua và trả tiền trực tiếp cho D. D thuê Hoàng Huy H3 giúp D bán ma túy đá từ khoảng đầu tháng 12/2023, được D trả công 500.000đồng/01 ngày và được sử dụng xe mô tô BKS 15H1-282.10 để đi bán ma túy. Ngày 06/12/2023, D mua 03 gam ma túy đá giá 2.000.000đồng ở đường tàu Trần Nguyên H4, chia nhỏ được 10 ống nhựa. Sáng ngày 07/12/2023 D đưa cho H3 10 ống nhựa có ma túy đá để H3 mang đi bán cho khách, sau đó biết H3 bị Cơ quan Công an bắt giữ D đã bỏ trốn.

Mai Văn D khai nhận phù hợp với lời khai của Hoàng Huy H3 và Hoàng Xuân N về việc ngày 04/12/2023 D bán 01 ống nhựa ma túy đá cho N, ngày 05/12/2023 bán 01 ống nhựa ma túy đá cho H3. Ngoài ra số ma túy đá H3 bán cho N vào các ngày 02/12/2023 và 05/12/2023 cũng là ma túy đá D đưa cho H3 để bán cho khách. Nguồn gốc số ma túy trên là của D mua của người không quen biết ở đường T, quận L, Hải Phòng. Mỗi ngày D mua 03 gam ma túy đá giá 1.500.000đồng, chia nhỏ được 10 ống nhựa bán giá 300.000đồng/01 ống. Từ đầu tháng 12/2024 cho đến trước khi H3 bị bắt giữ, D đã đưa ma túy cho H3 đi bán 04 lần, mỗi lần 10 ống nhựa ma túy đá. Đến ngày 07/12/2024 D đưa cho H3 10 ống ma túy đá H3 chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an bắt giữ thu giữ vật chứng như trên.

Về nguồn gốc số ma túy đá Cơ quan điều tra thu giữ tại nhà D là của D mua từ khoảng tháng 10/2023 của người không quen biết ở đường tàu Trần Nguyên H4 giá 22.000.000đồng để chia bán cho khách. D đã sử dụng một ít nhưng thấy ma túy chất lượng kém nên cất đi chờ có khách hỏi mua thì bán.

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKS-P1 ngày 22 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Mai Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, việc truy tố, xét xử các bị cáo là không oan và bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 3 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Mai Văn D từ 18 năm 06 tháng đến 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000 - 20.000.000 đồng;

Tịch thu tiêu huỷ: Số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật khác có liên quan đến việc phạm tội.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy thu giữ của bị cáo;

Đề nghị trả lại 01 điện thoại di động cho bà Vũ Thị T, 01 điện thoại cho chị Hồ Thị Y, trả lại toàn đầu thu Camera cho anh Mai Đức H2.

Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo D tranh luận: Thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố đã đề nghị. Tuy nhiên, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt chính dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà và tại Cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Mai Văn D có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý, trong đó xác định được khối lượng chất ma tuý là 69,86 gam ma túy loại Methamphetamine

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Mai Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản và khung hình phạt là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội. Ma túy là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra cần xem xét đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội phạm ma tuý. Hội đồng cũng xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về vai trò và hình phạt:

[7] Đây là vụ án có đồng phạm, bị cáo là người thuê Hoàng Huy H3 để bán ma tuý. D và H3 thống nhất, D là người cung cấp ma tuý, còn H3 đi bán lẻ ma tuý để hưởng công, nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Do đó, bị cáo có vai trò chính, sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, còn H3 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử ngày 29/8/2024. Nên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà hôm nay là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích để thu lợi nên cần áp dụng mức hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

[9.1] Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (thu của Mai Văn D) và các đồ vật liên quan ;

[9.2] Xe mô tô BKS 15H1-282.10 qua điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1993 ở thôn V, xã Q, huyện T, Hải Phòng. Anh Đ khai khoảng tháng 6/2023 anh đã bán xe mô tô trên cho Mai Văn D giá 10.000.000đồng, khi mua bán xe chỉ thỏa thuận miệng, không có giấy tờ mua bán xe, nên xác định đây là xe của bị cáo và đã dùng để đi mua ma tuý, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[9.3] 02 điện thoại của bà T và chị Y không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho bà T và chị Y.

[9.4] 01 đầu thu Camera của anh Mai Đức H2 cần trả lại cho anh H2.

- Về vấn đề khác:

[10] Đối với Hoàng Huy H3 và Hoàng Xuân N, ngày 29/8/2024 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử Hoàng Huy H3 08 năm 06 tháng tù, Hoàng Xuân N bị xét xử 09 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[11] Đối với đối tượng bán ma túy cho Mai Văn D do D không khai rõ được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố Mai Văn D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Mai Văn D 18 (mười tám) năm 06 (sáu) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giữ 02/01/2025.

Phạt tiền bị cáo Mai Văn D 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật liên quan (thu của Mai Văn D) gồm : 01 hộp giấy dấu niêm phong của phòng K có chữ ký của Đỗ Quang T2, Nguyễn Đức D1 ; 01 bì dấu niêm phong số 1004MT-B/PC09 có chữ ký của Đỗ Quang T2, Đỗ Thị H5 và Lê Thị Hoài L1 ; 01 hộp màu đen hình vuông kích thước khoảng 20x2026cm; 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 18cm được cắt vát một đầu ; 01 hộp bìa các-tông kích thước 20x15x6cm trong chứa 100 đoạn ống nhựa tròn dài khoảng 04cm ;

2.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô AirBlade, BKS 15H1-282.10 thu giữ của bị cáo D;

2.3. Trả lại cho bà Vũ Thị T 01 diện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng có số IMEI : 353842194172225; trả lại cho chị Hồ Thị Y 01 điện thoại Samsung màu đen đã qua sử dụng số IMEI2 : 354505628548885;

2.4. Trả lại 01 đầu thu Camera Hikvision có mã SN : J2043585 cho anh Mai Đức H2.

Tình trạng, đặc điểm các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng của Phòng

cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an T cho Cục thi hành án dân sự TP Hải Phòng.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Mai Đức H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Pháp luật.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1 - TANDTC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Hữu Trường

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 115/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn Duyên 18 (mười tám) năm 06 (sáu) tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger