Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 115/2025/HS-ST

Ngày: 06 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Minh Thọ - Cán bộ hưu trí Phường 8, thành phố Đà Lạt.
  2. Bà Đỗ Thị Thu Hương - Nguyên giáo viên Trường THCS &THPT Chi Lăng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Lê Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 135/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật K, sinh năm: 1992, tại: Lâm Đồng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A, đường P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở hiện nay: số A, đường P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Gới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 147/2017/HSST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật K 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Cháu Trần Minh Đ, sinh ngày 13/10/2013; cư trú tại số B, đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Minh Đ: Bà Trần Thị Mộng T1, sinh năm: 1981; cư trú tại số B, đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, là mẹ đẻ; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Lê Hoàng Q, sinh năm: 1980; cư trú tại: số A, T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm: 1987; cư trú tại: số A T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhật K không có nghề nghiệp ổn định, do không có tiền tiêu xài nên K nảy sinh ý định tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Để thực hiện ý định trên, vào khoảng 01 giờ 00 ngày 27/11/2024, K đi bộ từ nhà tại địa chỉ số A, đường P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đến đường N, Phường B, thành phố Đ để tìm tài sản trộm cắp, khi đi ngang qua Trung tâm D tại địa chỉ số A, đường N, Phường B, thành phố Đ, K thấy 01 xe điện (xe đạp điện) nhãn hiệu AIR BIKE 20A Plus màu đen (không có biển số) của cháu Trần Minh Đ đang để trước sân Trung tâm (xe bị hỏng nên cháu Đ để tại đây từ ngày 23/11/2024), K quan sát xung quanh không có người nên tiến lại gần, kiểm tra thấy xe không khoá cổ, K dắt chiếc xe quay ngược lại về hướng đường P, trên đường dắt xe đi K thấy xe bị quẹo cổ, không có dè chắn bùn bánh trước, K tiếp tục dắt chiếc xe tới phía sau khách sạn N2 cất giấu, rồi về nhà. Sau đó, K lên mạng xã hội Facebook tìm người bán xe và nhắn tin cho tài khoản “Xe Đạp Đà Lạt” (chủ tài khoản là ông Lê Hoàng Q) thoả thuận giá bán chiếc xe đạp điện và hẹn gặp giao dịch vào lúc 09 giờ 00 tại ngã tư K, thành phố Đ. Đến khoảng 07 giờ 00 cùng ngày, K tới lấy chiếc xe ở phía sau khách sạn N2, dắt tới vòng xoay K để giao dịch mua bán chiếc xe với ông Q. Tại đây, ông Q thấy xe bị hỏng không sử dụng được nên ông Q hỏi K nguồn gốc xe điện thì K nói xe của K bị hỏng nên bán, do xe bị hỏng nên ông Q chỉ đồng ý mua với giá 800.000đ, K đồng ý nên ông Q đưa số tiền này cho K rồi cùng vợ là Võ Thị Quỳnh N1 mang xe về nhà và tự mua phụ tùng là IC, 02 ổ khoá và ép chảng ba, hết số tiền 356.230đ sửa chữa chiếc xe, còn K đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Sau khi phát hiện bị mất xe đạp điện, cháu Đ đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc, đến ngày 02/12/2024, Cơ quan Công an đã triệu tập Nguyễn Nhật K lên làm việc, tại đây K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 14/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định luận 01 (một) xe điện (xe đạp điện), màu đen có chữ AIR BIKE 20A PLUS đã qua sử dụng, không có dè chắn bùn bánh trước, bị hỏng hoàn toàn IC và cong chảng ba có giá trị 5.500.000đ.

Tang vật thu giữ: 01 (một) xe điện (xe đạp điện) màu đen, đã qua sử dụng có chữ AIR BIKE 20A PLUS; 01 (một) IC màu bạc có ghi dòng chữ BLQ 2024 – 08CD, (+) (-), có gắn nhiều dây điện màu sắc khác nhau, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 (một) ổ khoá màu đen (khoá cốp) có ghi dòng chữ FRA8 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 (một) ổ khoá màu đen (khoá cổ) có gắn dây điện màu xanh, đỏ, trắng, ghi dòng chữ FR8, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng.

Tại bản Cáo trạng số 131/CT-VKSÐL-LĐ ngày 05/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố đối với bị can Nguyễn Nhật K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Nhật K khai nhận, để có tiền tiêu xài vào khoảng 01 giờ 30 ngày 27/11/2024 bị cáo đã đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 xe đạp điện màu đen, có chữ AIR BIKE 20A PLUS đã qua sử dụng (không có biển số) của cháu Trần Minh Đ tại Trung tâm D – địa chỉ số A N, Phường B, thành phố Đ có trị giá 5.500.000đ. Bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Nhật K về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật K từ 06 - 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, đã được giải quyết và xử lý xong nên không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Nhật K: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện theo pháp luật của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Nhận thấy, quá trình điều tra những người trên đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng của cá nhân, vào khoảng 01 giờ 30 ngày 27/11/2024 bị cáo Nguyễn Nhật K đã đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe đạp điện màu đen, có chữ AIR BIKE 20A PLUS đã qua sử dụng (không có biển số) của cháu Trần Minh Đ tại Trung tâm D, địa chỉ số A N, Phường B, thành phố Đ có trị giá 5.500.000đ.

[4] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Nhật K phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có cơ sở và đúng pháp luật.

[5] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, rèn luyện, sửa chữa sai lầm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo, tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Đối với ông Lê Hoàng Q là người mua chiếc xe đạp điện của bị cáo K với giá 800.000đ. Sau đó, ông Q tự mua phụ tùng sửa chữa xe hết 356.230đ. Quá trình điều tra xác định ông Q không biết tài sản trên do bị cáo K trộm cắp mà có nên không đủ cơ sở để xử lý ông Q về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại cháu Trần Minh Đ đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì nên không đặt ra để giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng Q đã nhận lại số phụ tùng sửa chữa xe và không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bỏ ra mua xe của bị cáo nên không đặt ra để giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe điện (xe đạp điện) màu đen, có chữ AIR BIKE 20A PLUS, đã qua sử dụng (không có biển số), Cơ quan công an đã trả cho cháu Trần Minh Đ nên không đặt ra để giải quyết.

Đối với 01 (một) IC màu bạc có ghi dòng chữ BLQ 2024 – 08CD, (+) (-), có gắn nhiều dây điện màu sắc khác nhau, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 (một) ổ khoá màu đen (khoá cốp) có ghi dòng chữ FRA8 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 (một) ổ khoá màu đen (khoá cổ) có gắn dây điện màu xanh, đỏ, trắng, ghi dòng chữ FR8, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng. Cơ quan công an đã trả cho ông Lê Hoàng Q nên không đặt ra để xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Nhật K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật K 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

[2] Về án phí:

Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Nhật K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ được kháng cáo đối với phần trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tp. Đà Lạt;
  • - Phòng PV06 - CA tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an tp. Đà Lạt;
  • - Nhà tạm giữ CA tp. Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS tp. Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (sơ thẩm) - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 115/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật Khánh trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger