|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2025/HS-ST
Ngày: 05-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thọ và ông Nguyễn Cảnh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trực - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 07/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HS ngày 22/05/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Quốc K, giới tính: Nam; sinh ngày 25/10/2006 tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã P, TP. Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Kim T, sinh năm 1977 và Bà: Võ Thị L, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/3/2024, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 27/8/2024 (phạm tội dưới 18 tuổi); Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Phan Chí N, giới tính: Nam; sinh ngày 29/01/2006 tại tỉnh Bình Định; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã P, TP.Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: P (Chết) và Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
- Anh Phan Kim A, sinh năm 2005 (vắng mặt).
Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Em Nguyễn Tấn T2, sinh ngày 19/8/2009 (có mặt).
- Anh Bùi Thành C1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã P, TP.Q, tỉnh Bình Định.
Người đại diện hợp pháp cho em Nguyễn Tấn T2 có ông Nguyễn Hùng C, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1984 là cha mẹ của em T2 (Ông C có mặt).
Cùng trú tại: Thôn T, xã P, TP. Q, tỉnh Bình Định.
Nơi thường trú: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.
Chỗ ở hiện tại: 480 N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
Bùi Thị Đ, Hồ Thanh V, Võ Thị L, Cao Nguyễn Kiều D, Phan Tiến Đ1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 04/12/2024, Nguyễn Quốc Krủ Phan Chí N và Nguyễn Tấn T2 đi tìm xe mô tô của người dân để sơ hở mà chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, N và T2 đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển số 77L2-093.80 chở N và T2 đi dạo tìm tài sản. Khoảng 00 giờ ngày 05/12/2024, Phan Kim A điều khiển xe mô tô biển số 77G1-358.46 chở bạn là Cao Nguyễn Kiều D đến Công viên T phần mở rộng thuộc khu phố C, phường N, TP ., dựng xe mô tô gần nhà tắm công cộng số 01 và cả hai đi bộ đến ghế đá trên bãi biển cách vị trí dựng xe mô tô biển số 77G1-358.46 khoảng 20m ngồi chơi, nói chuyện, không để ý đến xe mô tô của mình. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, K nhìn thấy xe mô tô biển số 77G1-358.46 của anh Phan Kim A dựng tại đây, không có người trông coi nên đã chỉ cho N, Thanh thấy và cả nhóm thống nhất sẽ chiếm đoạt xe mô tô này. Sau đó, K điều khiển xe mô tô 77L2-093.80 chở N đi đến đoạn vòng xoay đường N – Nguyễn Tất T3 đứng chờ; còn T2 lén lút tiếp cận, dắt xe mô tô biển số 77G1-358.46 đến vị trí K và N đang đứng rồi cùng nhau tẩu thoát. Khi cả nhóm đi đến đoạn đường tại vòng xoay trong khu đô thị “A" thuộc phường Đ, TP . thì dừng lại, K và N cạy cốp xe mô tô biển số 77G1-358.46 và nhìn thấy bên trong có số tiền 800.000 đồng; 01 chiếc ví da bên trong có giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 77G1-358.46 và giấy tờ tuỳ thân của Phan Kim A. Đối với số tiền 800.000 đồng cả nhóm chia nhau N 300.000 đồng, K 350.000 đồng, T2 150.000 đồng; K lấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 77G1-358.46 cất giữ rồi vứt bỏ chiếc ví da cùng các giấy tờ khác tại đây. Đối với xe mô tô biển số 77G1-358.46, K đấu dây bình và khởi động được xe rồi điều khiển rời đi. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm mang xe mô tô biển số 77G1-358.46 đến thay ổ khoá mới tại một quầy cắt chìa khoá (Không rõ địa chỉ) tại khu vực thị trấn D, huyện T rồi tiếp tục mang xe mô tô này đến tiệm sửa xe máy “Honda Vương” (địa chỉ: Thôn T, thị trấn T, huyện T) gặp anh Hồ Thanh V hỏi bán. Tại đây, anh V không mua nên đã liên hệ, giới thiệu cho anh Bùi Thành C1, anh C1 kiểm tra thấy xe mô tô 77G1-358.46 có đầy đủ giấy tờ và T2 nói xe mô tô trên là của T2 mua sử dụng đã lâu nay cần bán nên anh C1 tin tưởng mà đồng ý mua với giá 7.000.000 đồng, sau đó T2 và anh C1 lập giấy mua bán xe. Số tiền bán xe có được, K sửa xe mô tô biển số 77L2-093.80 hết 2.400.000 đồng, số tiền còn lại cả nhóm chia nhau và tiêu xài hết. Ngày 11/12/2024, Phan Kim A có đơn trình báo sự việc đến Công an xã P, TP ..
Ngày 11/01/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP ., kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 77G1-358.46, trị giá 11.200.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an T5 đã tạm giữ và trả lại xe mô tô biển số 77G1-358.46 cho bị hại Phan Kim A.
Về dân sự: Bị hại Phan Kim A đã nhận lại được tài sản và các bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 800.000 đồng, bị hại Anh không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, anh Bùi Thành C1 cũng đã nhận được số tiền bồi thường là 7.000.000 đồng nên anh C1 không có yêu cầu gì khác.
- Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSQN ngày 06/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng.
Về trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Nguyễn Quốc K: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù
- Đối với bị cáo Phan Chí N: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Phan Kim A đã nhận lại được tài sản và các bị cáo bồi thường đủ số tiền 800.000 đồng, đồng thời, anh Bùi Thành C1 cũng đã nhận được số tiền bồi thường là 7.000.000 đồng nên bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Bị cáo tự bào chữa:
Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng:
Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà nên HĐXX có cơ sở để xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Quốc K khởi xướng và rủ bị cáo Phan Chí N tìm xe mô tô của người dân sơ hở để chiếm đoạt. Với thủ đoạn trên, vào lúc 02 giờ sáng ngày 05/12/2024, các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 77G1-358.46, trị giá 11.200.000 đồng và số tiền 800.000 đồng (để trong cốp xe) của bị hại Phan Kim A. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt là 12.000.000 đồng
Các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải biết hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật và quyền sở hữu tài sản của người khác, các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Phan Kim A có tổng trị giá 12.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Trong vụ án có 02 bị cáo tham gia nhưng với vai trò đồng phạm giản đơn và cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nên phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Quốc K là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản nên hình phạt của bị cáo Nguyễn Quốc K phải cao hơn so với bị cáo Phan Chí N.
[3] Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N thì thấy rằng:
- 4.1 Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Quốc K có nhân thân xấu, bị cáo Phan Chí N có nhân thân tốt.
- 4.2 Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- 4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo Phan Chí N ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường cho bị hại, hoàn trả tiền cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để khắc phục hậu quả và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Phan Chí N, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo an tâm cải tạo tốt.
[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Phan Kim A, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bùi Thành C1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Các bị cáo đều bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.
[7] Về vấn đề khác:
- 7.1 Đối với Nguyễn Tấn T2 đã tham gia cùng K và N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Phan Kim A. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội T2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên T2 không phạm tội.
- 7.2 Đối với bà Võ Thị L là người quản lý và sử dụng xe mô tô biển số 77L2-093.80. Tuy nhiên, tại thời điểm Nguyễn Quốc K sử dụng xe mô tô này làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội thì bà L không biết. Do đó, bà L không đồng phạm với các bị cáo.
- 7.3 Đối với Bùi Thành C1 đã có hành vi mua xe mô tô biển số 77G1-358.46, Hồ Thanh V đã có hành vi giới thiệu cho C1 mua xe mô tô trên nhưng cả hai đều không biết đây là tài sản do Nguyễn Quốc K và đồng phạm trộm cắp mà có nên V và C1 không phạm tội.
[8] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tại phiên toà, về mức hình phạt của các bị cáo là trong khung hình phạt đã truy tố và các phần đề nghị khác phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho bị cáo Nguyễn Quốc K
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo Phan Chí N.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- 2.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- 2.2 Xử phạt bị cáo Phan Chí N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Ngô Đình Hưng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 40 ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Đình H
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình T4 và ông Nguyễn Cảnh L1
Tiến hành Nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 07/5/2025 đối với bị cáo:
- Nguyễn Quốc K, sinh năm 2006 tại tỉnh Bình Định.
- Phan Chí N, sinh năm 2006 tại tỉnh Bình Định.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
- Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Không.
- Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp: Trong quá trình điều tra, truy tố các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập theo trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
- Về tội danh, điều luật áp dụng:
- Hình phạt, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự:
- 4.1 Về hình phạt:
- 4.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- 4.2 Xử phạt bị cáo Phan Chí N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay không: Không.
- Án phí hình sự; xử lý vật chứng; tài sản bị kê biên, tài khoản bị phong tỏa:
- Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho bị cáo Nguyễn Quốc K
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho bị cáo Phan Chí N.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Đủ căn cứ để xác định các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc K, Phan Chí N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 00 phút, ngày 05 tháng 6 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HĐ XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Đình Thọ |
Ngô Đình Hưng |
|
Nguyễn Cảnh Liêm |
Bản án số 115/2025/HS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 115/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Quốc K khởi xướng và rủ bị cáo Phan Chí N tìm xe mô tô của người dân sơ hở để chiếm đoạt. Với thủ đoạn trên, vào lúc 02 giờ sáng ngày 05/12/2024, các bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 77G1-358.46, trị giá 11.200.000 đồng và số tiền 800.000 đồng (để trong cốp xe) của bị hại Phan Kim A. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt là 12.000.000 đồng
