|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:115/2025/HS-PT
Ngày: 25 - 02- 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Đăng Huấn
Bà Mai Vân Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1157/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Trần Đức M do có kháng cáo của bị cáo M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Đức M, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2005 tại: Hà Nội; Nơi ĐKTT và cư trú: Tổ I, cụm 1 (nay là số A phố P), phường P, Quận T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Văn L; sinh năm 1974; Con bà: Phương Thị N, sinh năm 1977.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05/12/2022, Tòa án nhân dân quận Đống Đa ra quyết định đình chỉ vụ án số 05/2022/HSST-QĐ, đình chỉ xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Đức M về tội cố ý gây thương tích theo điểm i, a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Bị tạm giữ từ ngày 12/5/2024 đến ngày 21/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Vắng mặt.
Vụ án còn có những bị cáo khác không kháng cáo, không có kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11/5/2024, Nguyễn Minh T đến quán game tại địa chỉ số A phố P - phường P, T, Hà Nội để chơi game. Khi vào quán, T ngồi chơi một mình. Khoảng 10 phút sau, T ra quầy thu ngân để nạp thêm tiền chơi Internet thì T nhìn thấy Nguyễn Minh Q đang đứng ở quầy thu ngân để nạp tiền Internet. Khi Q nhìn thấy T thì Q vênh mặt lên và nói với T là: “Đi đâu đấy”, T trả lời Q là: “đi lượn lờ thôi”. T thấy nhân viên quán đang ngủ ở quầy thu ngân và Q ở đấy nên T tránh mặt và không nạp tiền nữa rồi quay về chỗ ngồi chơi game. Khoảng 05 phút sau, T thấy Q đứng cùng khoảng 3-4 người nam thanh niên ở trong quán game gồm có Trần Đức M, Nguyễn Khánh T1, Đặng Quốc C (SN: 28/03/2009; HKTT chỗ ở: tổ A, cụm C, P, T, Hà Nội), Đặng Đình Thiên V (Sinh ngày: 30/03/2009; HKTT: tổ D, cụm F, P, T, Hà Nội; Chỗ ở: P403 chung cư S ngõ A Đ, B, Hà Nội), Cao Phương N1 (Sinh ngày: 15/7/2004; HKTT và chỗ ở tại số G ngách B Â, N, T, Hà Nội). Lúc này, Q bảo Toàn đi gây sự với T để đánh nhưng T1 không đồng ý, sau đó Q tiến đến chỗ T ngồi và nói giọng thách thức là: “để máy và tài khoản đấy cho bố mày chơi”, T đăng xuất khỏi tài khoản sử dụng Internet của T và đứng dậy khỏi máy tính cho Q ngồi chơi. Sau đó, Q mượn máy hút thuốc lá điện tử (Pod) của T, T đưa cho Q mượn để hút rồi Q đưa lại cho nhiều người khác trong nhóm để hút. T1 là người cầm cuối cùng. Một lúc sau, T đòi Q chiếc pod của T thì Q nói là: “bố mày đéo cầm, mày đánh được thằng này đi thì trả pod”. Q vừa nói vừa chỉ vào nam thanh niên đứng cạnh Q, nhưng người này không nói gì. T biết Q định gây sự với T, nên T đi ra trước cửa quán đứng đợi Q trả chiếc Pod. Đứng đợi được khoảng 15 phút thì T nhìn thấy Q cùng với Cao Phương N1 đi ra ngoài cửa. T đứng đối diện với Q và N1, do lúc nãy T đòi Q không trả nên T nói với N1 là: “thế anh bảo Q đưa cho em P đi” thì N1 nói với T là: “mày ra lệnh cho bố à” đồng thời N1 dùng nắm đấm tay bên phải đấm thẳng 01 phát trúng vào vùng ngực của T và đấm tiếp 01 cái vào gần mạng sườn bên trái của T. Lúc đó Q cũng dùng nắm đấm tay phải và tay trái đấm liên tiếp 1-2 phát trúng vào vùng thái dương trên đầu bên trái và bên phải của T khiến T hơi choáng. Lúc này, T không rõ ai là người đang giữ chiếc Pod của T. Sau đó, N1 và Q bỏ đi theo hướng đi lên đường đê An Dương V1, T quay lại vào phòng Internet ngồi tiếp tục chơi game. T có sử dụng máy chủ trong quán nói xấu Q và N1 với nội Dung “Q và N1 trộm đồ của T”.
Lúc này, Trần Đức M đang chơi game trong quán, M thấy T nói xấu Q thì nhắn tin thông báo cho Q. Khoảng 15 phút sau, Q và N1 quay trở về quán Internet, N1 lấy pod từ chỗ T1 trả lại cho T và đồng thời nói với T là: “mày gọi ai là thằng, mày đọ tiền với nhà bố mày không”, N1 tiếp tục đe dọa không cho T chơi game ở đây nữa, muốn đuổi T đi. T thấy sợ, không dám làm gì nên T đi ra ngoài, Q đi theo sau T ra trước cửa quán rồi dùng chân tay đấm đá nhiều phát vào vùng lưng và đầu phía sau T, sau đó T bỏ chạy về nhà.
Khi ở nhà, T cay cú vì bị đánh nên T nảy sinh ý định gọi người đến đánh trả thù Q. T đã cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu vàng (là chiếc điện thoại của mẹ T) để đăng nhập và sử dụng tài khoản Zalo của T là: “Minh Thắng”. T nhắn tin cho Mai Thành D: “anh ơi em bị đánh ở quán N2”, T có kể cho D nghe việc T bị nhóm của Q đánh và nhờ D trả thù cho T. Ngoài việc nhắn tin nhờ D giúp trả thù thì T cũng nhắn tin cho Hoàng Minh Q1. Lúc này, Q1, D, Mai Thành D1 (D và D1 là anh em ruột song sinh) và Phan Tiến Đ đang uống nước với nhau tại phố Trịnh Công S. Khi T nhắn tin cho D thì D có bảo T quay lại quán game để xem nhóm của Q còn ở đấy không nhưng T trả lời không đi được do mẹ T đang ở bên cạnh. D đã bàn với cả nhóm đến quán G theo lời T nói để tìm nhóm người đánh T nói chuyện và đánh nhau. Qua tin nhắn T biết nhóm của D đến quán game tìm Q, T có gửi cho D hình ảnh khuôn mặt của Q và N1 để nhóm của D nhận diện. Khi nhóm của D đến quán game S1 tìm Q thì Q và N1 không có tại quán. D1 vào quán game hỏi “thằng nào đánh thằng T em tao”, lúc này Trần Đức M trả lời “không phải em” D1 chỉ tay vào M hỏi “mày đánh nó à”, M nói không phải, giữa D1 và M có lời qua tiếng lại với nhau. Sau đó nhóm của D, D1 bỏ đi ra khỏi quán game. Thấy vậy, M nhắn tin cho Q nói T gọi người đến quán tìm đánh Q, lúc này Q đang ở nhà, M bảo Đặng Đình Thiên V đến đón Q, khi Q đến quán G. Tại đây, Q nhắn tin cho Đỗ Duy P1 về sự việc mâu thuẫn, nghe xong P1 bảo Q đón P1 đến quán game để tham gia đánh nhau. Sau khi đón P1 đến quán game thì Q bảo các thành viên trong nhóm gồm T1, M, P1 chuẩn bị hung khí để đánh nhau. T1 chở Q về nhà T1 tại số A ngõ H phường P, T, Hà Nội và lấy 01 thanh kiếm và 01 con dao bầu, còn M đi ra đường 40m phường P lấy 01 kiếm bằng kim loại sáng màu, dài khoảng 1m và 01 con phớ bằng kim loại dài khoảng 60cm mà M cất giấu từ trước. Sau khi lấy được hung khí cả nhóm quay về quán game ngồi chơi game. Tại quán game, Q được một người chơi game trong quán (không rõ tên tuổi địa chỉ) cho biết thông tin tên tài khoản Facebook của D bên nhóm T, Quân chủ Đ1 kết bạn với tài khoản facebook “Thành Dũng” của Mai Thành D và nhắn tin nói chuyện (Mai Thành D1 cầm máy của D nhắn tin). Hai bên có lời nói thách thức đánh nhau và hẹn nhau đến quán G để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, D nhắn tin cho T bảo T
chuẩn bị đến quán game, T đồng ý, nhóm của D gồm D, D1, Đ, Q1 đến đầu ngõ D A để đón T. Tại đây, khi T tham gia nhóm của D thì cả nhóm bàn nhau về việc lấy hung khí đánh nhóm Q. Lúc này, D1 bảo cả nhóm đi về nhà D1 và D để lấy vũ khí. D1 vào nhà lấy 01 thanh tuýp sắt dài khoảng 50cm. Sau đó cả nhóm đến quán G, khoảng 0h15 phút ngày 12/5/2024 nhóm của T đến quán G và đi vào trong quán, nhóm của Q cũng đang chờ sẵn. Khi vào đến quán, T chỉ tay về phía Q nói “thằng nào vừa đánh bố”, D1 chỉ vào Q nói “mày xưng bố với ai đấy”, sau đó D1 bảo Q đi ra ngoài giải quyết. Cả hai nhóm đi ra lòng đường trước của quán G, nhóm của T quây xung quanh Q, lúc này P1 đứng cạnh Q còn M, T1 đứng ở trong cửa quán game. D1 tiếp tục hỏi Q “ nãy mày xưng bố với ai” và tiến về phía Q, P1 hỏi “chúng mày muốn đánh nhau à”, D1 trả lời “thế chúng mày thích gì” và tiến sát gần Q. Lúc này, Q dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng mặt của D1. Sau đó, cả hai nhóm xông vào đánh lẫn nhau, M và T1 cầm kiếm từ trong quán lao ra tham gia đánh nhau, T lao vào và dùng tay phải đấm 01 phát vào khuỷu tay bên phải của Q, lúc này T bị Q và T1 lao đến rượt đuổi. T bị Q đẩy ngã xuống đường, khi T nằm dưới đường thì Q và T1 lao đến dùng chân đạp liên tiếp nhiều phát trúng vào vùng đầu, tay, lưng, bụng (T1 cầm kiếm nhưng không sử dụng kiếm để đánh T). T nằm dưới đường dùng 02 tay ôm đầu để che những phát đạp, được một lúc thì T không bị đánh nữa và đứng dậy. Q1 đứng cạnh đó chưa đánh được ai thì nhìn thấy T bị đánh, sau đó T ngồi lên xe Honda Wave của Q1 điều khiển chở T ngồi sau bỏ chạy đến khu vực ngã ba phố P - P thì dừng lại, T ngoảnh đầu lại thì nhìn Đ, D1 và D vẫn đang đánh nhau với nhóm của Q. Sau khi T bỏ chạy, Q thấy P1 đang bị D đánh thì Q ôm D để cho P1 đánh, sau đó Q chạy lại khu vực cửa quán G lấy 01 cán chổi bằng gỗ dựng gần đó, Q chĩa cán chổi về phía nhóm T nói “ Chúng mày có thích gọi người lên nữa không, thích đánh nữa không, biết bố mày là ai chưa, cút hết” rồi Q dùng cán chổi đập vào mặt D. Mạnh lúc này cũng nói “ bố cay chúng mày lâu lắm rồi đấy, ý chúng mày như nào”, D1 chửi và lao vào đánh M thì M lúc này cầm thanh kiếm trên tay chém loạn về hướng lưng, chân và tay D1, M không rõ trúng vào vị trí cụ thể nào trên người D1. Khi D1 bị chém thì rơi ra thanh tuýp sắt mà D1 giấu trong người, D1 nhặt thanh tuýp lên và ném về phía M nhưng không trúng, D lao vào đánh P1 thì Q lao vào đánh D. P1 lao vào dùng chân tay không đánh D1 và D. Đ sau khi thấy thanh tuýp sắt rơi dưới đất thì nhặt lên vụt 02 cái vào vai P1, lúc này P1 quay lại hỏi Đ “mày vụt ai đấy” thì Đ xin lỗi. Do P1 quen biết với Đ từ trước nên P1 không đánh Đ mà tiếp tục quay ra đánh D. Sau khi D1 bị chém và chảy nhiều máu thì D1 lên xe máy do Đ chở bỏ đi, Q thấy D1 lên xe máy bỏ đi thì nói với D “về mà xem, đưa thằng em mày đi viện băng bó đi”. Sau đó tất cả giải tán, nhóm D đưa D1 đi đến bệnh viện X cấp cứu còn nhóm của Q
cũng giải tán.
Sau khi xảy ra sự việc, Mai Thành D đến công an phường P trình báo về việc Mai Thành D1 bị gây thương tích. Công an phường đã tiếp nhận tin báo theo quy định và phối hợp cơ quan CSĐT Công an quận T điều tra làm rõ sự việc.
Vật chứng thu giữ:
- Tạm giữ thông qua khám nghiệm hiện trường:
- + 01 vỏ bao kiếm màu nâu bằng kim loại, đầu vỏ kiếm hình Elip rỗng, kích thước 1,8 x 3cm; đầu khe hẹp hình chữ nhật kích thước 0,4 x 3,5cm.
- + 02 dấu vết máu, ký hiệu dấu vết 1 và 3.
- Tạm giữ của Nguyễn Minh T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr plus màu vàng, đã qua sử dụng, không có số imei trên thân vỏ máy
- Tạm giữ của Nguyễn Khánh T1:
- + 01 (một) thanh kiếm có đặc điểm dài khoảng 60cm, thân kiếm bằng kim loại có chuôi gỗ màu đen và 01 con dao bầu có đặc điểm dài khoảng 30cm, thân dao bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ.
- Tạm giữ của Mai Thành D:
- + 01 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng đã qua sử dụng, imei: 353730390887938.
- Tạm giữ camera: 10 đoạn video Clip đã rà soát tạm giữ xung quanh hiện trường.
Ngày 12/05/2024 Trần Đức M, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Khánh T1, Đỗ Duy P2, Nguyễn Minh T2, Mai Thành D, Phan Tiến Đ, Hoàng Minh Q1 đã đến Công an quận T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Thương tích của các đối tượng tham gia đánh nhau như sau:
- M: Vào bệnh viện X lúc 01h00 ngày 12/5/2024 trong tình trạng tỉnh táo, đa vết thương phần mềm vùng đầu, mặt, hai cánh tay, hai cẳng tay, chân trái do vật sắc bén gây ra. Chụp CT sọ não vùng mặt kết quả: Gãy xương chính mũi bên trái, tụ máu phần mềm trán trái, sưng nề phần mềm trán phải, chụp X - quang các chi không có gãy xương. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y thương tích số 1681 ngày 12/5/2024 đối với thương tích trên cơ thể Mai Thành D1.
Tại bản Kết luận giám định thương tích của T4 đối với Mai Thành D1 kết luận: 01 vết thương vùng trán trong chân tóc thương tích 01/%; 01 vết thương mặt ngoài khuỷu tay trái 01%; 01 vết thương mặt sau trong khuỷu trái 01%; 01 vết thương 1/3 dưới cẳng tay trái 01%; 01 vết thương mặt trước 1/3 trên cẳng tay phải 02%; 01 vết thương ngón V tay phải 01%; 01 vết thương ngón V tay trái 01%; 01 vết thương ngón IV tay trái 01%; 01 vết thương mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái 01%.
Kết luận thương tích của D1 là 10% (mười phần trăm).
Cơ chế hình hành thương tích: Các thương tích của D1 do vật tày, tày có cạnh sắc gây ra.
Tại thời điểm giám định chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện.
Trong quá trình điều tra, bị cáo D1 từ chối giám định thương tích bổ sung và có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng gây thương tích cho D1
- Đối với Mai Thành D: Không phát hiện thương tích trên cơ thể D, ngày 12/5/2024 D đã từ chối khám thương và giám định thương tích.
- Đối với Nguyễn Minh T: Tại cánh mũi trái có vết xước, đau ngực, khuỷu tay phải có vết bầm tím, có vết xước dài khoảng 5cm. Nguyễn Minh T có yêu cầu giám định thương tích. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Minh T, tuy nhiên T không đến Trung tâm P3 để giám định thương tích. T từ chối giám định thương tích và có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng gây thương tích cho T
- Đối với Phan Tiến Đ: Qua xem xét dấu vết trên thân thể phát hiện Đ có 01 vết thương rách da chảy máu dài khoảng 02cm tại vùng đỉnh đầu bên trái. Ngày 12/5/2024, Đ từ chối khám thương và giám định thương tích.
- Đối với Nguyễn Minh Q: Xem xét dấu vết trên thân thể phát hiện Q có vết xước bầm đỏ tại gò má trái, mu bàn chân phải bị sưng. Q từ chối khám thương, giám định thương tích và không đề nghị xử lý đối với đối tượng gây ra thương tích cho Q.
- Đối với Trần Đức M có thương tích như sau: Sau lưng bên phải cỏ vết bầm đỏ dài khoảng 20cm, rộng 3cm, tại khuỷu tai trái có vết đỏ, bả vai mặt trước tay trái có vết xước đỏ. M đề nghị được đi khám thương. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Trần Đức M, tuy nhiên M không đến Trung tâm P3 để giám định thương tích. M từ chối giám định thương tích và có đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng gây thương tích cho M
- Đối với Đỗ Duy P1 có thương tích như sau: tại vùng ngực dưới cổ có vết xước dài khoảng 15cm. Ngày 12/5/2024, P1 từ chối khám thương và giám định thương tích, có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng gây thương tích cho P1
- Đối với Hoàng Minh Q1, Nguyễn Khánh T1: Bản thân Quyền, T1 không bị đánh, không có thương tích, Quyền, T1 từ chối đi khám thương.
Tại cơ quan CSĐT, các bị cáo Mai Thành D, Nguyễn Minh T, Hoàng Minh Q1, Mai Thành D1, Phan Tiến Đ và Trần Đức M, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Khánh T1, Đỗ Duy P2 đều thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình. Lời khai các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của nhân chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Đối với Cao Phương N1. Tại cơ quan điều tra, Cao Phương N1 thừa nhận hành vi dùng tay chân xâm hại sức khỏe của Nguyễn Minh T, việc hai nhóm xảy ra đánh nhau về sau thì N1 không biết và không tham gia. Lời khai của Cao Phương N1 phù hợp với lời khai của các đối tượng khác. Ngày 09/8/2024, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt VPHC đối với N1 về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác được quy định tại điểm a khoản 5 điều 7 nghị định 144 NĐ - CP, mức phạt 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Đối với các đối tượng Đặng Quốc C, Đặng Đình T3 V không trực tiếp tham gia việc đánh nhau, có biết sự việc đánh nhau do có mặt tại thời điểm xảy ra vụ việc. C cho bị cáo M mượn xe máy, sau đó bị cáo M đi lấy hung khí để đánh nhau (Việc M đi lấy hung khí C không biết). Các đối tượng C, V không có hành vi giúp sức các bị cáo Q, M, P1, T1 trong việc đánh nhau, gây rối trật tự công cộng. Lời khai của C và V phù hợp với lời khai của các bị cáo và phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr plus màu vàng, đã qua sử dụng, không có số imei trên thân vỏ máy thu giữ của Nguyễn Minh T. Quá trình điều tra xác định: 01 điện thoại di động trên là tài sản của mẹ T là bà Nguyễn Thị Vân K. Đêm ngày 11/5/2024 và rạng sáng ngày 12/5/2024 bà K không biết việc T sử dụng điện thoại của mình để hẹn đi đánh nhau. Ngày 09/8/2024, cơ quan CSĐT Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sỡ hữu là bà Nguyễn Thị Vân K đối với 01 điện thoại di động trên. Bà K đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.
Cáo trạng số 159/CT-VKSTH ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ truy tố các bị cáo Trần Đức M, Nguyễn Khánh T1, Hoàng Minh Q1, Đỗ Duy P1, Nguyễn Minh Q, Phan Tiến Đ, Mai Thành D, Nguyễn Minh T và Mai Thành D1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 199/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Đức M 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/5/2024 đến ngày 21/5/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt của các bị cáo khác, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 30/9/2024, bị cáo Trần Đức M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Đức M vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 199/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đức M đúng về chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị cáo Trần Đức M đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ, bị cáo không có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập. Hội đồng xét xử không nhận được thông tin bị cáo xin hoãn phiên tòa và lý do vắng mặt của bị cáo.
Xét thấy bị cáo Trần Đức M đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, bị cáo không xuất trình lý do vắng mặt, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 290, Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt bị cáo Trần Đức M.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Đức M vắng mặt không có lý do. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Ngày 12/5/2024, tại cửa quán G - số A phố P, phường P, quận T, Hà Nội, các bị cáo Trần Đức M, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Khánh T1, Đỗ Duy P1, Nguyễn Minh T, Mai Thành D, Phan Tiến Đ, Mai Thành D1, Hoàng Minh Q1 có hành vi sử dụng hung khí đánh nhau gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trong đó bị cáo Mai Thành D1 bị xâm phạm sức khỏe.
Bị cáo Trần Đức M có chuẩn bị hung khí, tích cực tham gia đánh nhau và trực tiếp cầm kiếm chém gây tổn hại sức khỏe cho bị cáo Mai Thành D1.
Với hành vi phạm tội như trên bị cáo Trần Đức M bị Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đức M, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng, xâm phạm đến nguyên tắc an toàn nơi công cộng, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử lý nghiêm khắc trước pháp luật nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội ra đầu thú. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt, không xuất trình chứng cứ mới làm thay đổi tính chất vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ và xin hưởng án treo của bị cáo.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 199/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Trần Đức M không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 199/2024/HSST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự ;
Xử phạt bị cáo Trần Đức M 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/5/2024 đến ngày 21/5/2024.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Đức M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lê Na |
Bản án số 115/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 115/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
