|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2025/HNGĐ – ST Ngày: 20 – 6 – 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Yến
- Ông Nguyễn Thanh Liêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Minh Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 316/2025/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2025/QĐXXST HNGĐ ngày 07/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 285/2025/QÐST – HNGĐ ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy D, sinh năm 1985
Địa chỉ: Số C, đường H, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và số A T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Trịnh Hòa T, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số D V, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thùy D vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt); ông Trịnh Hòa T vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Thùy D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trịnh Hòa T tự tìm hiểu nhau hơn 02 năm. Ông, bà tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/MX ngày 24/4/2013. Hôn nhân lần thứ nhât của cả hai. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống tại căn nhà số D V, khóm Đ, phường M, thành phố L. Cuộc sống vợ chồng bà hạnh phúc được thời gian đầu, đến khoảng đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cách dạy con, ông T quan tâm, chăm sóc con cái gia đình, không quan tâm đến kinh tế gia đình. Bà có góp ý ông T được vài lần Duyênng ông T không thay đổi. Đến khoảng cuối năm 2017, mâu thuẫn của vợ chồng bà trở nên trầm trọng nên ông bà ly thân. Bà và các con về nhà cha mẹ ruột của bà ở tới nay. Thời gian qua, ông T cũng thường xuyên tới lui thăm con. Nhận thấy, thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 (hai) con chung tên Trịnh Thành T1 sinh ngày 14/01/2014 và Trịnh Hồng N sinh ngày 10/10/2017. Bà D yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng Duyên xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Đ vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).
Về nội dung: Nhận thấy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D. Về con chung, nhận thấy, 02 con chung đang được bà D nuôi dưỡng và các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà D. Do ông T không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa bà Trần Thị Thùy D và ông Trịnh Hòa T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[2] Xét thấy, qua kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 08/4/2025 thể hiện ông T đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số D V, khóm Đ, phường M. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định ông T có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS cho ông T. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông T tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía bà D có Đơn đề nghị được vắng mặt khi xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Trần Thị Thùy D và ông Trịnh Hòa T tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường phường M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35/MX ngày 24/4/2013 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Bà D cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa thuận, vợ chồng bà đã nhiều lần tìm biện pháp hàn gắn nhưng không có kết quả. Phía ông T được Tòa án nhiều lần triệu tập, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, ông T vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà D, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Duyên vậy, ông T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, bà D và ông T không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy, do mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà D được ly hôn ông T.
[5] Về con chung: Căn cứ vào bản sao Trích lục Giấy khai sinh số 990/TL.KS-BS ngày 15/12/2017 và bản sao Trích lục Giấy Khai sinh mang tên Trịnh Hồng N số 423/TLKS ngày 20/10/2017 của Ủy ban nhân dân phường M cấp, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định bà D và ông T có 02 con chung chưa thành niên tên Trịnh Thành T1 sinh ngày 14/01/2014 và Trịnh Hồng N sinh ngày 10/10/2017. Xét thấy, cháu T1 và cháu N đang được bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà D.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà D không yêu cầu nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của ông T về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[8] Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà D đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002641 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Thùy D, được ly hôn với ông Trịnh Hòa T.
- Về con chung: Ông, bà có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Trịnh Thành T1 sinh ngày 14/01/2014 và Trịnh Hồng N sinh ngày 10/10/2017.
Giao các con chung cho bà D được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà D không yêu cầu.
(Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà D đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002641 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 115/2025/HNGĐ – ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 115/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
