TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/6/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa và bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đào Văn H, sinh năm: 1990; địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái; vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Chị Mai Thị K, sinh năm 1990. Địa chỉ: TDP T, thị trấn P, huyện P, thành phố H; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 16 tháng 4 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Đào Văn H trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Văn H và chị Mai Thị K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, thành phố H vào ngày 27/6/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm, đời sống hôn nhân không hòa hợp dẫn đến cãi vã, xích mích. Từ tháng 7 năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân không thường xuyên liên lạc, cuộc sống của ai người đó tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Mai Thị Kiều.
Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là cháu Đào Hữu Đ, sinh ngày 16/9/2017. Hiện cháu Đ đang ở với chị K. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giao cháu Đ cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; nguyên đơn không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao căn cước công dân; bản sao giấy khai sinh của con.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho chị K về việc anh H xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định chị K không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị K đều vắng mặt.
Tại biên bản xác minh ngày 16/5/2025, chính quyền địa phương và gia đình đã xác định chị Mai Thị K đăng ký thường trú tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, thành phố H. Về quan hệ hôn nhân, anh H và chị K có đăng ký kết hôn tại xã Ủ nhân dân thị trấn P, huyện P, thành phố H vào ngày 27/6/2016; vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn; hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Về con chung có 01 người con như anh H trình bày. Ủy ban nhân dân thị trấn P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và cử cán bộ phối hợp với gia đình tống đạt các văn bản nêu trên theo quy định của pháp luật nhưng do bận việc cá nhân nên chị K không đến Tòa án để làm việc theo thời gian được ấn định.
Do không tiến hành hòa giải được và nguyên đơn có đơn đề nghị không tiếp tục hoà giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 05/6/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử ban hành quyết định hoãn phiên tòa và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đào Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Văn H và chị Mai Thị K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, thành phố H vào ngày 27/6/2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và chị Mai Thị K là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa nguyên đơn và chị K, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau, chị K không chăm lo cho gia đình và đam mê cờ bạc. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được, sống ly thân từ tháng 7 năm 2019 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng không hòa giải được do bị đơn vắng mặt; điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đào Văn H.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Yêu cầu của nguyên đơn xin được giao cháu Đào Hữu Đ, sinh ngày 16/9/2017 cho chị Mai Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; nguyên đơn không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Đ đang được chị K trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; phần lớn thời gian sinh hoạt và gắn bó với mẹ, đồng thời cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Hội đồng xét xử đã giải thích cho anh H rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Anh H trình bày nếu sau này có thu nhập ổn định anh sẽ chủ động chu cấp cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đào Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đào Văn H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đào Văn H được ly hôn chị Mai Thị Kiều.
2. Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đào Hữu Đ, sinh ngày 16/9/2017 cho chị Mai Thị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Đào Văn H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đào Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Anh Đào Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng anh H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002637 ngày 23/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Anh Đào Văn H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Sang |
Bản án số 115/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 115/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đào Văn H xin ly hôn chị Mai Thị Kiều
