|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/6/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Ty
Ông Nguyễn Bá Dân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1997, vắng mặt.
Nơi ĐKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: Số D, đường T, khu Đ, thành phố Đ, Đài Loan.
2. Bị đơn: Anh Lại Văn H, sinh năm 1994, vắng mặt.
Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 04/11/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lại Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (N là phường Đ), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Giấy chứng nhận kết hôn cấp ngày 20/5/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn. Sau đó, do điều kiên kinh tế khó khăn nên năm 2019 chị sang Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động. Kể từ thời điểm đó vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách vợ chồng không còn hòa hợp. Mặt khác do khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho cả hai bên khi giải quyết công việc gia đình, khiến cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng bế tắc, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Mâu thuẫn vợ chồng không còn cách giải quyết. Mặc dù chị và anh H đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm, được hai bên gia đình động viên khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân 05 năm, không còn sự quan tâm đến nhau. Vì vậy chị làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn anh Lại Văn H.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lại Bảo A, sinh ngày 16/01/2017, hiện nay cháu A đang ở với ông bà ngoại là ông Lê Chí B (sinh năm 1972) và bà Nguyễn Thị H1 sinh năm 1977) tại địa chỉ: Xóm T, phường Đ, thành phố T. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án lấy ý kiến của cháu Lại Bảo A xem cháu muốn ở với ai và giải quyết theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong trường hợp Tòa án giao cháu Bảo A cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng thì chị không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp Tòa án giao cháu Bảo A cho anh Lại Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng thì chị cấp dưỡng nuôi con 1.500.000đồng cho tới khi cháu đủ 18 tuổi. Nếu anh H không đồng ý với mức cấp dưỡng nêu trên, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.
[2] Đối với anh Lại Văn H: Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng: Gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Tòa án làm việc nhưng anh H không có mặt. Ngày 28/3/2025 tại gia đình anh H, Tòa án đã giải thích để anh H trình bày ý kiến quan điểm và có biện pháp cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng anh H từ chối làm bản tự khai, từ chối việc Tòa án lấy lời khai. Anh trình bày không có ý kiến gì và cũng không có đề nghị gì về việc chị T làm đơn ly hôn. Anh từ chối ký vào biên bản làm việc, biên bản giao nhận của Tòa án.
Tại đơn trình bày ý kiến của ông Lê Chí B, bà Nguyễn Thị H1 (bố mẹ đẻ chị T):
Con gái ông bà là Lê Thị T kết hôn với anh Lại Văn H, thời gian đầu kết hôn anh H và chị T chung sống hòa thuận hạnh phúc. Càng về sau, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Hiện tại mâu thuẫn giữa chị T, anh H đã không thể hàn gắn được nên chị T đã nộp đơn xin ly hôn với anh H. Trong thời kỳ hôn nhân chị T, anh H có một con chung là cháu Lại Bảo A. Hiện cháu Bảo A đang được ông bà chăm sóc và nuôi dưỡng tại địa chỉ: Thôn T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nay ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao cháu Bảo A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T ở nước ngoài, đề nghị Tòa án tạm giao cháu Bảo A cho ông bà nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi chị T về Việt nam. Ông bà không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con trong thời gian ông bà tạm nuôi dưỡng chăm sóc cháu.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh H. Về con: Giao cháu Lại Bảo A, sinh ngày 16/01/2017 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Chị Lê Thị T là nguyên đơn, có HKTT tại xóm T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan; Bị đơn là anh Lại Văn H, thường trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Do vụ án có nguyên đơn cư trú ở nước ngoài, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng đối với bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các thủ tục tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật, bị đơn từ chối viết bản tự khai, từ chối ký nhận các biên bản, không có ý kiến gì về việc chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị T có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Lại Văn H mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Lại Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân đã 05 năm, mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vẫn không cải thiện được, tình cảm vợ chồng thực sự không còn. Vợ chồng sống không còn sự quan tâm chăm sóc đến nhau; Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã trực tiếp làm việc với anh H và liên lạc với gia đình giải thích khuyên bảo chị T để anh chị có biện pháp giải quyết cải thiện thiện tình cảm vợ chồng nhưng chị T kiên quyết ly hôn, anh H từ chối trình bày ý kiến quan điểm về việc chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H đã trầm trọng, anh chị không có thiện chí trong việc cải thiện tình cảm của vợ chồng, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp.
[2.2]. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lại Bảo A, sinh ngày 16/01/2017. Xét về nguyện vọng của chị T xin được trực tiếp nuôi con hoặc tùy thuộc vào nguyện vọng của cháu Bảo A. Nguyện vọng của cháu Bảo A xin được ở với mẹ. Nếu Tòa án quyết định cho chị T trực tiếp nuôi con, chị không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con; Nếu Tòa án giao cho anh H trực tiếp nuôi con, chị có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Bố mẹ của chị T (ông B, bà H1) có đơn đề nghi Tòa án tạm giao cháu Bảo A cho ông bà trực tiếp nuôi dưỡng do hiện nay cháu Bảo A đang ở với ông bà. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hiện nay chị T đang lao động tại Đài Loan, chưa về Việt Nam sinh sống, anh H đang sinh sống tại phố T, phường Đ, cháu Bảo A đang ở cùng với bố mẹ chị T tại phố T, phường Đ; Việc giao con cho người trực tiếp nuôi con khi vợ chồng ly hôn được thực hiện theo quy định của luật Hôn nhân gia đình là giao con cho bố hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Do hiện tại chị T chưa về Việt Nam sinh sống nên không thể giao con cho chi T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó để đảm bảo các điều kiện về việc trực tiếp nuôi con và cũng không làm thay đổi nhiều sự ổn định môi trường học tập, sự gắn bó, quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng của cháu Bảo A, cần giao cháu Lại Bảo A cho anh Lại Văn H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T hiện đang lao động tại Đài Loan, có công việc và thu nhập ổn định; Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lại Bảo A cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị T có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
Chị T, anh H có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ theo quy định tại điều 84 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Anh H không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản và công nợ chung nên sau này nếu anh H yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp.
[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị T.
- - Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Lại Văn H.
- - Về con: Công nhận cháu Lại Bảo A sinh ngày 16/01/2017 là con chung của chị Lê Thị T và anh Lại Văn H. Giao cháu Lại Bảo A cho anh Lại Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lê Thị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi cháu Bảo A thành niên
- Chị Lê Thị T có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu số 0000747 ngày 11/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị T còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Lại Văn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
6
Bản án số 115/2025/HNGĐ-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 115/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị Lê Thị T khởi kiện đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lại Văn H
