TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2025/DS-ST
Ngày: 27-3-2025
V/v tranh chấp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Văn Công Trọn
Ông Duyên Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Linh. Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1077/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm: 1972.
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
Bị đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1971. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 10 năm 2024, của nguyên đơn thể hiện:
Bà H có tham gia hụi do bà H1 làm chủ, cụ thể:
Dây hụi mở ngày 15/8/2020al, loại hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 36 phần, bà H tham gia 01 phần. Bà H góp hụi được 27 lần, bà H chưa hốt thì đình hụi. Đối với dây hụi này bà H yêu cầu bà H1 thanh toán số tiền 2.000.000 đồng x 27 lần = 54.000.000 đồng.
Dây hụi mở ngày 25/8/2021al, loại hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 37 phần, bà H tham gia 01 phần. Bà H góp hụi được 14 lần, bà H chưa hốt thì đình hụi. Đối với dây hụi này bà H yêu cầu bà H1 thanh toán số tiền 2.000.000 đồng x 14 lần = 28.000.000 đồng.
Tại phiên toà, bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện, do xét thấy điều kiện thanh toán của bà H1 có khó khăn nên bà H yêu cầu bà H1 thanh toán cho bà H số tiền 75.000.000 đồng.
Bị đơn là bà Lê Thị H1 trình bày:
Hụi ngày 15/8/2020al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 36 phần, bà H tham gia 01 phần, hụi khui được 27 lần thì đình hụi. Quá trình các hụi viên bỏ hụi hốt bà H1 không theo dõi nên không xác định được số tiền cụ thể mà bà H đã đóng vào. Bà H đóng hụi 27 lần nên bà H1 xác định thống nhất trách nhiệm thanh toán cho bà H 27 lần x 2.000.000 đồng = 54.000.000 đồng.
Hụi ngày 25/8/2021al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 37 phần, bà H tham gia 01 phần, hụi khui được 14 lần thì đình hụi. Quá trình các hụi viên bỏ hụi hốt bà H1 không theo dõi nên không xác định được số tiền cụ thể mà bà H đã đóng vào. Bà H đóng hụi 14 lần nên bà H1 xác định thống nhất trách nhiệm thanh toán cho bà H 14 lần x 2.000.000 đồng = 28.000.000 đồng.
Tuy nhiên, từ khi đình hụi đến nay đã thanh toán cho bà H 16 lần, tổng cộng là 37.000.000 đồng. Các lần thanh toán tiền bà H1 có ghi sổ theo dõi, nhưng bà H không có ký xác nhận. Các lần bà H1 trả tiền có khi có người nhà bà H, bà H1, không có người ngoài chứng kiến.
Như vậy, bà H1 còn nợ lại bà H số tiền (54.000.000 đồng + 28.000.000 đồng) - 37.000.000 đồng = 45.000.000 đồng. Đồng ý thanh toán cho bà H 45.000.000 đồng. Tuy nhiên, do các hụi viên khác không đóng hụi, bà H1 gặp nhiều khó khăn nên xin bà H cho trả số tiền 35.000.000 đồng. Mặt khác, số tiền bà H yêu cầu là hụi có lời, số tiền bà H góp vào thực tế ít hơn nên yêu cầu bà H giảm bớt trách nhiệm thanh toán cho bà H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hụi. Nơi cư trú của bị đơn và nơi thực hiện giao dịch đều tại huyện T nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét tranh chấp giữa các đương sự: Các đương sự thống nhất về nội dung giao dịch, bà H có tham gia giao dịch hụi do bà H1 làm chủ, cụ thể: Hụi ngày 15/8/2020al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 36 phần, bà H tham gia 01 phần, hụi khui được 27 lần thì đình hụi. Quá trình các hụi viên bỏ hụi hốt bà H1 không theo dõi nên không xác định được số tiền cụ thể mà bà H đã đóng vào. Bà H đóng hụi 27 lần; Hụi ngày 25/8/2021al, hụi 2.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, tất cả có 37 phần, bà H tham gia 01 phần, hụi khui được 14 lần thì đình hụi. Quá trình các hụi viên bỏ hụi hốt bà H1 không theo dõi nên không xác định được số tiền cụ thể mà bà H đã đóng vào. Bà H đóng hụi 14 lần.
Tuy nhiên, các bên có tranh chấp về trách nhiệm thanh toán, bà H cho rằng sau khi góp hụi như trên thì bà H1 đình hụi nhưng không thanh toán nên còn nợ lại số tiền 82.000.000 đồng. Về phía bà H1 cho rằng, từ khi đình hụi đến nay đã thanh toán cho bà H 16 lần, tổng cộng là 37.000.000 đồng.
Xét trình bày của các đương sự về trách nhiệm thanh toán: Bà H và bà H1 đều không xác định được từng lần góp hụi. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mỗi lần góp hụi bà H1 phải hoàn lại cho bà H số tiền 2.000.000 đồng, tổng trách nhiệm phải thanh toán là 82.000.000 đồng. Bà H1 cho rằng sau khi đình hụi có thanh toán đối với 02 dây hụi có tranh chấp số tiền là 37.000.000 đồng. Tuy nhiên, các lần thanh toán tiền bà H1 có ghi sổ theo dõi, nhưng bà H không có ký xác nhận. Các lần bà H1 trả tiền không có người ngoài chứng kiến. Về phía bà H xác định không có việc thanh toán tiền cho 02 dây hụi trên như bà H1 trình bày, về nội dung này trách nhiệm chứng minh là của bà H1 nhưng bà H1 không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận trình bày này của bà H1. Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn đặt ra là có căn cứ. Tại phiên toà, bà H xét thấy điều kiện bà H1 khó khăn nên thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà H1 thanh toán số tiền 75.000.000 đồng là sự tự nguyện của đương sự, không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Lê Thị H1 phải chịu án phí đối với nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán cho bà H. Bà Võ Thị H không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H. Buộc bà Lê Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị H số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí: Bà Lê Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm chục ngàn đồng), chưa nộp. Bà Võ Thị H có nộp tiền tạm ứng án phí là 2.050.000 đồng tại biên lai số 0005024 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được trả lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Huệ |
Bản án số 115/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 115/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi
