Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 09-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Khoa
  • Ông Lê Văn Nguyên
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 31/10/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964, tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B và bà: Nguyễn Thị H (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị N, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: Chưa có; tiền sự: Ngày 12/12/2023, bị Chủ tịch UBND huyện V xử phạt hành vi “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2024 đến ngày 27/8/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Tất cả vắng mặt)

  • + Anh Đoàn Văn K, sinh năm 1977; trú tại: Khu Đ, phường Á, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
  • + Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1984; trú tại: Khu Đ, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
  • + Anh Trần Đình M, sinh năm 1978; trú tại: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Dương Văn C, sinh năm 1992; trú tại: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Dương Văn V, sinh năm 1987; trú tại: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1986; trú tại: Thôn H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Lê Văn H2, sinh năm 1987; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Đào Văn Q1, sinh năm 1993; trú tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Dương Văn X, sinh năm 1970; trú tại: Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1989; trú tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1994; trú tại: Thôn H, thị trấn N, V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1998; trú tại: Thôn G, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991; trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Trần Văn V1, sinh năm 1995; trú tại: Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1997; trú tại: xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Anh Phạm Văn K1, sinh năm 1989; trú tại: xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; trú tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • + Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988; trú tại: Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do ham lợi nhuận, từ đầu năm 2023, Nguyễn Văn Đ đã tổ chức cho vay tiền với mức lãi suất từ 2.857 đồng đến 37.500 đồng/1 triệu đồng/ngày. Đường thỏa thuận khách sẽ trả lãi trước tùy theo mối quan hệ hoặc thời hạn vay, với các kỳ hạn thanh toán lãi 10, 15, hoặc 30 ngày. Đối với vay dài hạn, lãi suất tính theo tháng cố định 30 ngày, bất kể tháng có 28, 29, hay 31 ngày. Nếu khách không trả lãi đúng hạn, họ phải để lại giấy tờ tùy thân, giấy đăng ký xe, hoặc tài sản thế chấp.

Đường thường yêu cầu khách viết và ký "Giấy bán, cho, tặng xe" theo mẫu có sẵn, trong đó ghi rõ thông tin cá nhân, ngày nhận tiền, và ngày hẹn chuộc xe. Nếu khách không trả nợ đúng hạn, tài sản thế chấp (xe máy hoặc ô tô) được coi như bán cho Đ. Để tránh bị cơ quan chức năng xử lý, trong giấy tờ này không thể hiện mức lãi suất. Khách vay phải trực tiếp đến nộp lãi bằng tiền mặt.

Từ ngày 01/11/2023 đến 21/8/2024, Đ đã cho 10 người vay tổng cộng 174.000.000 đồng với lãi suất từ 2.857 đồng đến 37.500 đồng/1 triệu đồng/ngày (tương đương 104,3%/năm đến 1.368,75%/năm). Đường thu tổng cộng 66.978.300 đồng tiền lãi, trong đó 60.267.067 đồng là thu lợi bất chính, còn 6.711.233 đồng theo quy định pháp luật. Số tiền gốc khách vay đã trả là 41.250.000 đồng. Cụ thể các trường hợp sau:

  1. Đoàn Văn K (sinh 1977, trú Khu Đ, phường Á, TP H): Từ 08/6/2024 đến 08/9/2024, vay 46.000.000 đồng, lãi suất 6.522 đồng/triệu/ngày (238%/năm), thế chấp xe Honda SH BKS: 34AA-325.63; thu lãi 27.000.000đồng, hợp pháp 2.268.493 đồng, thu lợi bất chính 24.731.507 đồng; chưa trả gốc.
  2. Hoàng Văn Q (sinh 1984, trú Khu Đ, phường N, TP H): Từ 11/8/2024 đến 11/9/2024, vay 30.000.000 đồng, lãi suất 6.667 đồng/triệu/ngày (234,3%/năm), thế chấp xe Honda SH BKS: 34B3-716.62. Thu lãi 6.000.000 đồng, hợp pháp 493.151 đồng, thu lợi bất chính 5.506.849 đồng. Chưa trả gốc.
  3. Trần Đình M (sinh 1978, trú Thôn N, xã L, huyện V, Hưng Yên): Từ 30/5/2024 đến 30/7/2024, vay 25.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày (109,5%/năm), thế chấp xe Honda Vision BKS: 89L1-416.96. Thu lãi 4.500.000 đồng, hợp pháp 821.918 đồng, thu lợi bất chính 3.678.082 đồng. Đã trả 10. 000.000 đồng gốc; từ 01/8/2024 đến 21/8/2024, vay tiếp 15.000.000 đồng, lãi suất như trên. Thu lãi 900.000 đồng, hợp pháp 164.384 đồng, thu lợi bất chính 735.616 đồng. Đã trả gốc và lãi.
  4. Dương Văn V (sinh 1987, trú Thôn C, xã L, huyện V, Hưng Yên): Từ 30/5/2024 đến 31/5/2024, vay 10.000.000 đồng, lãi suất 30.000 đồng/triệu/ngày (1.095%/năm), không thế chấp. Thu lãi 300.000 đồng, hợp pháp 5.479 đồng, thu lợi bất chính 294.521 đồng. Đã trả gốc và lãi.
  5. Dương Văn C (sinh 1992, trú Thôn N, xã L, huyện V, Hưng Yên): Từ 29/11/2023 đến 09/12/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày (365%/năm), thế chấp xe mô tô (không nhớ loại và BKS). Thu lãi 500.000 đồng, hợp pháp 27.397 đồng, thu lợi bất chính 472.603 đồng. Đã trả gốc và lãi.
  6. Vũ Văn H1 (sinh 1986, trú Thôn H, thị trấn N, huyện V, Hưng Yên): Từ 20/12/2023 đến 21/8/2024, vay 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày (182,5%/năm), thế chấp xe Honda Lead BKS: 89L1-364.92. Thu lãi 24.100.000 đồng, hợp pháp 2.641.096 đồng, thu lợi bất chính 21.458.904 đồng. Đã trả gốc.
  7. Lê Văn H2 (sinh 1987, trú Thôn Thị T3, xã Đ, huyện V, Hưng Yên): Từ 01/4/2024 đến 03/4/2024, vay 8.000.000 đồng, lãi suất 37.500 đồng/triệu/ngày (1.368,75%/năm), thế chấp xe công nông. Thu lãi 600.000 đồng, hợp pháp 8.767 đồng, thu lợi bất chính 591.233 đồng. Đã trả gốc và lãi.
  8. Đào Văn Q1 (sinh 1993, trú Thôn H, xã L, huyện V, Hưng Yên): Từ 16/8/2024 đến 26/8/2024, vay 5.000.000 đồng, lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày (365%/năm), thế chấp giấy đăng ký xe Honda Airblade BKS: 89L1-40345 và CCCD. Thu lãi 500.000 đồng, hợp pháp 27.397 đồng, thu lợi bất chính 472.603 đồng. Chưa trả gốc và lãi.
  9. Dương Văn X (sinh 1970, trú Thôn M, xã L, huyện V, Hưng Yên): Từ 01/11/2023 đến 10/11/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất 4.000 đồng/triệu/ngày (146%/năm), không thế chấp. Thu lãi 200.000 đồng, hợp pháp 27.397 đồng, thu lợi bất chính 172.603 đồng. Đã trả gốc và lãi; từ 01/12/2023 đến 10/12/2023, vay tiếp 7 triệu, lãi suất 2.875 đồng/triệu/ngày (104,3%/năm), không thế chấp. Thu lãi 200.000 đồng, hợp pháp 38.356 đồng, thu lợi bất chính 161.644 đồng. Đã trả gốc và lãi.
  10. Nguyễn Xuân H3 (sinh 1989, trú Thôn H, xã L, huyện V, Hưng Yên): Từ 27/7/2024 đến 21/8/2024, vay 8.000.000 đồng, lãi suất 6.250 đồng/triệu/ngày (228,1%/năm), thế chấp xe Honda Airblade BKS: 89L1-0107. Thu lãi 1.200.000 đồng, hợp pháp 105.205 đồng, thu lợi bất chính 1.094.795 đồng. Đã trả gốc và lãi.

Ngày 21/8/2024, Phòng C3 - Công an tỉnh H nhận được đơn tố giác của anh Đoàn Văn K và anh Hoàng Văn Q về hành vi "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" của Nguyễn Văn Đ. Cùng ngày, lực lượng Cảnh sát hình sự phối hợp với Công an thị trấn N lập biên bản bắt quả tang Nguyễn Văn Đ đang nhận tiền lãi từ anh K và anh Q. Đường đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an số tiền 6.000.000 đồng và một xe mô tô Honda Airblade BKS: 89N-3881.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H sau đó tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, thu giữ: 06 xe mô tô các loại; 03 quyển sổ bên trong có các trang giấy được lập sẵn nội dung hợp đồng bán, cho, tặng xe; 04 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; 07 giấy căn cước công dân; Số tiền [...] đồng.

Ngoài ra, Đường tự nguyện giao nộp một xe ô tô Honda Civic màu bạc, BKS: 30A-430.46.

Theo Kết luận giám định số 330/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng C3 - Công an tỉnh H, chữ ký và chữ viết trên 08 trang giấy bán, cho, tặng xe trong các quyển sổ màu xanh, có dòng chữ "Sổ ghi mua bán xe" do Đ giao nộp được xác định là của các cá nhân: Nguyễn Xuân H3, Đàm Văn C2, Đào Văn Q1, Trần Đình M, Đoàn Văn K, Dương Văn V, Dương Văn C và Vũ Văn H1.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đối với khoản tiền thu lợi bất chính do thu lãi suất vượt quá 20%/năm, các cá nhân: Trần Đình M, Dương Văn V, Dương Văn C, Vũ Văn H1, Lê Văn H2, Đào Văn Q1, Dương Văn X, Nguyễn Xuân H3 đều không yêu cầu Đường hoàn trả. Riêng anh Đoàn Văn K và anh Hoàng Văn Q đề nghị cơ quan chức năng giải quyết theo pháp luật.

Bà Nguyễn Thị N, vợ của Đ, qua điều tra xác định không tham gia vào việc thu tiền từ khách và không biết về việc Đ cho vay với lãi suất cao. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý bà N.

* Về vật chứng:

  • Đối với 03 quyển sổ màu xanh bên trong là các trang giấy được đánh sẵn thành Giấy bán, cho, tặng xe; 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 06 căn cước công dân Cơ quan điều tra đã thu giữ trong quá trình điều tra đang bảo quản trong hồ sơ vụ án.
  • Đối với 07 xe mô tô và 01 xe ô tô, 02 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô.
    • + 01 xe ô tô Honda Civic, BKS: 89N1-0107 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô kèm theo. Quá trình xác minh làm rõ là tài sản hợp pháp của ông Đồng Đạo H5, ông H5 đã bán cho anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994, trú tại: Thôn H, thị trấn N, huyện V, anh L gửi xe trên nhờ Đường bán xe hộ nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 ô tô và giấy tờ trên cho anh L là có căn cứ.
    • + 07 xe mô tô và 02 Giấy đăng ký xe mô tô; 01 căn cước công dân kèm theo: Cơ quan điều tra đã tra cứu nguồn gốc của các xe trên không phải là vật chứng của vụ án; làm rõ chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 07 xe trên cho chủ sở hữu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo Đ không có ý kiến gì với việc Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên cho chủ sở hữu.
  • (Có Bảng xử lý vật chứng kèm theo Cáo trạng).
  • Đối với số tiền 156.000.000 đồng đã thu giữ của Đ. Quá trình điều tra làm rõ số tiền 6.000.000 đồng là tiền lãi anh K trả cho Đ; số tiền 100.000.000 đồng là tiền tích góp của chị Nguyễn Thị T2 (con gái Đ) chị T2 có nhờ vợ chồng Đ giữ hộ; số tiền 50.000.000 đồng là tiền tích góp riêng của bà Nguyễn Thị N (vợ Đ). Hai khoản tiền của chị T2 và bà N không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Hiện đã nộp toàn bộ số tiền trên vào tài khoản chờ xử lý của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.

Bản cáo trạng số 103/CT-VKS-P3 ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn Đ phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình Phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra còn đề nghị về biện pháp tư pháp và án phí.

Bị cáo không tranh luận với ý kiến luận tội; đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa và trong quá trình điều tra thống nhất với nhau, đồng thời phù hợp với lời khai của những người đã vay tiền và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Qua đó, có đủ cơ sở để kết luận:

Từ ngày 01/11/2023 đến ngày 21/8/2024, Nguyễn Văn Đ, với mục đích thu lợi bất chính, đã cho vay tổng cộng 174.000.000 đồng đối với 10 người, gồm: Đoàn Văn K, Hoàng Văn Q, Trần Đình M, Dương Văn V, Dương Văn C, Vũ Văn H1, Lê Văn H2, Đào Văn Q1, Dương Văn X, và Nguyễn Xuân H3. Đường áp dụng mức lãi suất từ 2.857 đồng đến 37.500 đồng trên mỗi triệu đồng mỗi ngày (tương đương 104,3% đến 1.368,75%/năm), thu lợi bất chính số tiền 60.267.067 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích lợi nhuận, bị cáo đã thực hiện hành vi cho các khách hàng vay tiền với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 60.267.067 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và xâm phạm lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu về tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là cựu chiến binh, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Ngày 12/12/2023, đã bị xử phạt hành chính về hành vi Kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản lãi suất vượt quá tỷ lệ lãi suất quy định của Bộ luật dân sự, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi cho vay lãi cao, thể hiện sự coi thường pháp luật. Đây là một căn cứ để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

[5]. Hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là Phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình Phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền gốc:

Bị cáo đã cho 10 khách hàng vay tổng số tiền là 174.000.000 đồng, xác định đây là tiền bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo đã nhận lại số tiền gốc của các anh: Đoàn Văn K là 5.000.000 đồng; Trần Đình M là 25.000.000 đồng; Dương Văn V là 10.000.000 đồng; Dương Văn C là 5.000.000 đồng; Vũ Văn H1 là 20.000.000 đồng; Lê Văn H2 là 8.000.000 đồng; Dương Văn X là 12.000.000 đồng; Nguyễn Xuân H3 là 8.000.000 đồng, tổng 93.000.000 đồng. Bị cáo chưa nhận lại số tiền gốc của các anh: Đoàn Văn K là 46.000.000 đồng, Hoàng Văn Q là 30.000.000 đồng; Đào Văn Q1 là 5.000.000 đồng, tổng 81.000.000 đồng.

Do vậy, cần truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Đ 93.000.000 đồng; anh Đoàn Văn K 46.000.000 đồng, Hoàng Văn Q 30.000.000 đồng; Đào Văn Q1 5.000.000 đồng.

- Đối với tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự(20%): Tổng tiền lãi theo lãi suất 20% bị cáo đã thu: 4.042.739 đồng, xác định là liên quan trực tiếp đến tội phạm, cần truy thu và sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (trên 20%):

Số tiền lãi thực tế bị cáo đã thu của anh K là 25.627.615 đồng; anh Q là 5.506.849 đồng; anh M là 4.413.698 đồng; anh V là 294.521 đồng; C là 472.603 đồng; H2 là 591.233 đồng; X là 334.247 đồng; H3 là 1.094.795 đồng, tổng là 38.335.561 đồng. Xác định đây là số tiền thu lợi bất chính, căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cần trả lại cho người vay tiền. Tuy nhiên các anh M, V, C, H2, X và H3 đều không yêu cầu lấy lại khoản tiền lãi trên 20% và cũng không sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp. Do vậy, không xem xét giải quyết đối với số tiền lãi trên 20% bị cáo đã thu của những người trên. Riêng anh K, anh Q đề nghị giải quyết theo pháp luật đối với số tiền lãi trên 20%, do vậy cần buộc bị cáo phải trả lại anh K 25.627.615 đồng; trả anh Q 5.506.849 đồng.

Anh H1, anh Q1 chưa trả cho bị cáo số tiền lãi nên không truy thu của bị cáo.

[8] Biện pháp tư pháp:

Số tiền 156.000.000 đồng thu giữ gồm:

  • - 6.000.000 đồng tiền lãi của Đoàn Văn K. Buộc bị cáo trả lại anh K toàn bộ số lãi trên mức 20% là 25.627.615 đồng, trong đó đã trả 6.000.000 đồng, còn lại 19.627.615 đồng.
  • - 100.000.000 đồng là tiền của Nguyễn Thị T2 và 50.000.000 đồng là tiền riêng của bà Nguyễn Thị N, không liên quan đến vụ án, cần trả lại.
  • - 03 quyển sổ ghi nội dung "Giấy bán, cho, tặng xe" là tài liệu liên quan đến vụ án, lưu hồ sơ.
  • Trả lại giấy tờ: Giấy đăng ký xe mô tô số 89001824 của Nguyễn Thị H4 (vợ anh Vũ Văn H1); Giấy đăng ký xe mô tô, CCCD của Đào Văn Q1; 05 CCCD của các cá nhân khác. Do Phạm Văn K1 vắng mặt, trả lại ông Phạm Văn B1 (bố đẻ) nhận thay.

[9]. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

[2]. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

2.1 Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể:

  • - Bị cáo Nguyễn Văn Đ: số tiền 97.042.739 đồng (Chín mươi bảy triệu không trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng).
  • - Anh Đoàn Văn K: số tiền 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng).
  • - Anh Hoàng Văn Q: số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
  • - Anh Đào Văn Q1: số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

2. Trả lại tiền và giấy tờ cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Trả lại bà Nguyễn Thị N: số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
  • - Trả lại chị Nguyễn Thị T2: số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  • - Trả lại anh Đoàn Văn K: số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
  • (Số tiền 156.000.000 đồng đang gửi tại tài khoản chờ xử lý của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên)
  • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu H4 01 đăng ký xe mô tô số 89001824 mang tên Nguyễn Thị Thu H4;
  • - Trả lại cho anh Đào Văn Q1 01 giấy đăng ký xe mô tô số 89000197 và 01 giấy CCCD số [...] mang tên Đào Văn Q1;
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn T 01 giấy CCCD số [...] mang tên Nguyễn Văn T;
  • - Trả lại anh Hoàng Văn C1 01 giấy CCCD số [...] mang tên Hoàng Văn C1;
  • - Trả lại anh Trần Văn V1 01 giấy CCCD số [...] mang tên Trần Văn V1;
  • - Trả lại anh Nguyễn Văn T1 01 giấy CCCD số [...] mang tên Nguyễn Văn T1;
  • - Trả lại cho ông Phạm Văn B1 (bố anh K1) 01 giấy CCCD số [...] mang tên Phạm Văn K1;

2.3 Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ trả lại khoản tiền thu lợi bất chính vượt quá 20% lãi suất tiền vay cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm:

  • - Trả lại anh Đoàn Văn K số tiền 19.627.615 đồng;
  • - Trả lại anh Hoàng Văn Q số tiền 5.506.849 đồng.

2.4 Lưu hồ sơ 03 quyển sổ ghi nội dung "Giấy bán, cho, tặng xe".

[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.256.723 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - CQ CSĐT-Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ cho vay có thế chấp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger