Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Hoa Hằng;

Ông Lê Văn Lượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến H (Tên gọi khác: Đ), sinh ngày 06 tháng 02 năm 1999, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T và con bà Lê Thị Mỹ N; hiện trú tại: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Vợ: Cao Thị T1, sinh năm: 2000; Con: Nguyễn Gia H1, sinh năm 2024; Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 12/2021/HSPT ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt Nguyễn Tiến H 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 29/8/2022. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa nộp tiền án phí của Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HSST ngày 02/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà. Bị cáo nộp án phí ngày 20/5/2024.

Bị cáo Nguyễn Tiến H bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cho đến nay. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

Bị hại: Anh Hoàng Văn T2, sinh năm: 1998; trú tại: Thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Thị T1, sinh năm: 2000; trú tại: Khu phố G, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến H đang có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng ngày 01/5/2024, H tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/05/2024, H mang theo thẻ ngân hàng V số tài khoản 102867919838 của chị Cao Thị T1 (sinh năm: 2000; trú tại: Khu phố G, phường E, thành phố Đ - là vợ của H) và điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead sơn màu đen, biển kiểm soát : 74K7-3130 (là tài sản của chị T1) đến trụ ATM của ngân hàng V1 tại địa chỉ: Số C Quốc lộ I (thuộc khu phố H, Phường A, thành phố Đ) để rút tiền. Khi đến nơi, H gặp anh Hoàng Văn T2 (trú tại: Xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) ở trụ ATM đang muốn nộp tiền mặt vào tài khoản ngân hàng nên nhờ H hướng dẫn. Lúc này, H đang thiếu tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T2. Để thực hiện hành vi, H đề nghị anh T2 đưa tiền mặt cho H rồi H sẽ chuyển tiền từ tài khoản của mình vào tài khoản anh T2. Nghe vậy, anh T2 đồng ý và đưa cho H số tiền là 1.800.000 đồng. Nhằm tạo sự tin tưởng cho anh T2, H giả vờ thực hiện thao tác chuyển tiền vào tài khoản của anh T2 (nhưng thực chất tài khoản của H không còn đủ tiền để chuyển). Một lúc sau, H hỏi anh T2 đã nhận được tiền chưa, vì điện thoại của anh T2 không có mạng Internet nên không thể vào tài khoản để kiểm tra, anh T2 tin tưởng là tiền đã được chuyển vào tài khoản của mình nên ra về. H mang theo số tiền đã chiếm đoạt và điều khiển xe mô tô về nhà. Khi anh T2 về nhà nghỉ, truy cập vào tài khoản ngân hàng để kiểm tra thì không thấy tiền được chuyển vào, biết mình đã bị lừa đảo chiếm đoạt tiền nên anh T2 trình báo đến Cơ quan Công an.

Bản cáo trạng số 116/CT-VKS-ĐH ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Tiến H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến H từ 07 tháng tù đến 08 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tiến H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với lời khai của bị hại. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

    Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, tại trụ ATM của Ngân hàng V1 địa chỉ: Số C Quốc lộ I (thuộc khu phố H, Phường A, thành phố Đ), khi được anh Hoàng Văn T2 nhờ hướng dẫn cách nộp 1.800.000 đồng vào tài khoản, Nguyễn Tiến H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T2 nên Nguyễn Tiến H đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối, H đề nghị anh T2 đưa tiền mặt cho H rồi H sẽ chuyển tiền từ tài khoản của mình vào tài khoản anh T2 trên máy ATM. Anh T2 tin lời nói của H là thật nên đồng ý và đưa cho H số tiền là 1.800.000 đồng để H chuyển tiền vào tài khoản cho anh T2. H giả vờ thực hiện thao tác chuyển tiền vào tài khoản của anh T2, sau đó chiếm đoạt số tiền trên.

    Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HSST ngày 02/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt Nguyễn Tiến H 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tại Bản án số 12/2021/HSPT ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt Nguyễn Tiến H 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 29/8/2022. Tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 01/5/2024, bị cáo chưa nộp tiền án phí 200.000 đồng của Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2021/HSST ngày 02/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.

    Như vậy, tính đến ngày 01/5/2024, Nguyễn Tiến H chưa được xoá án tích (Bị cáo nộp án phí ngày 20/5/2024).

    Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tiến H đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự “b) Đã bị kết án về tội này...., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

  3. [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm.

  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  5. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

  6. [6] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xoá án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

  7. [7] Vật chứng, tài sản thu giữ:

    • Tiền Ngân hàng N1: 1.800.000 đồng;
    • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Lead, sơn màu đen, biển kiểm soát 74K7-3130, số khung RLHJF2401AY704, đã qua sử dụng.

    Ngày 31/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 651/QĐ-ĐCSHS bằng hình thức:

    • Trả lại 1.800.000 đồng cho anh Hoàng Văn T2.

    Ngày 23/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 1272/QĐ-ĐCSHS bằng hình thức:

    • Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, sơn màu đen, biển kiểm soát 74K7-3130, số khung RLHJF2401AY704 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Cao Thị T1.
    • Đối với 01 đĩa DVD bên trong chứa file video hình ảnh Nguyễn Tiến H vào trụ ATM để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được chuyển cùng hồ sơ vụ án.
  8. [8] Về trách nhiệm dân sự:

    Bị hại anh Hoàng Văn T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về vấn đề dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị T1 đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  9. [9] Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Tiến H thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

  10. [10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H (Tên gọi khác: Đ) phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H 08 (T3) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 31 tháng 5 năm 2024.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP. Đông Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/TLST-HS ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 114/2024/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger