Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 115/2024/HSST

Ngày: 19 – 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Quốc Phòng – Giáo viên nghỉ hưu phường Châu Giang;
  2. Bà Lê Thị Huấn – Cán bộ hưu trí phường Hòa Mạc;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với:

1- Bị cáo: Trịnh Đình Thế V (tên gọi khác: Không), sinh năm 2003, nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Trịnh Đình Q, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1981; vợ: Lê Thị H1, sinh năm 2003, con: 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 25/01/2021, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 13 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích;
  • - Ngày 22/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 19 tháng tù giam, ra trại ngày 28/4/2022.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/3/2024 đến ngày 07/4/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

2- Bị hại: Cháu Nguyễn Phạm Bảo Q1, sinh ngày 21/11/2010; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1986, cùng nơi cư trú: thôn T, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam. vắng mặt.

3- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Lê Thị H1, sinh năm 2003, nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
  • - Anh Lê Phúc H2, sinh năm 1982, nơi ĐKHKTT: tổ dân phố X, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, chỗ ở: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

4- Người làm chứng: Cháu Nguyễn Trọng P, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ và Anh Nguyễn Văn N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 24/3/2024, Trình Đình Thế V1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, V2, biển kiểm soát: 36L1 - 287.36 từ nhà ở thôn Đ, xã Y, thị xã D đến Khu Công nghiệp H, thị xã D để nộp hồ sơ xin việc. Khi đi qua khu vực Nhà văn hóa thôn T, xã Y, thị xã D, V1 phát hiện thấy cháu Nguyễn Phạm Bảo Q1, sinh ngày 21/11/2010 và cháu Nguyễn Trọng P, sinh ngày 20/3/2014 cùng trú tại thôn T, xã Y, thị xã D đang ngồi trước cửa Nhà văn hóa, trên tay cháu Q1 đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ màu xanh có ốp lưng bằng nhựa trong suốt viền màu đen để chơi điện tử, còn cháu P ngồi bên cạnh xem. V1 nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên nên V1 điều khiển xe mô tô BKS 36L1 - 287.36 đi qua nhà văn hóa thôn T khoảng 100 mét, quan sát xung quanh rồi điều khiển xe quay lại vị trí cháu Q1 và cháu P đang ngồi. V1 dừng xe nhưng vẫn nổ máy rồi xuống xe đến chỗ cháu Q1 hỏi: “Ở đây là thôn nào?” với mục đích gây mất tập trung cho cháu Q1, cháu Q1 trả lời “Đây là thôn T”, ngay sau đó V1 dùng tay phải giật chiếc điện thoại mà cháu Q1 đang cầm trên tay rồi nhanh chóng lên xe mô tô điều khiển bỏ chạy về hướng H. Sau đó, V1 mang chiếc điện thoại di động vừa cướp giật được của cháu Q1 đến cửa hàng điện thoại “Bảo Hưng” ở số C, đường N thuộc địa phận thôn L, xã T, thị xã D và bán chiếc điện thoại cho chủ cửa hàng là anh Lê Phúc H2, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố X, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên được 600.000 đồng. V1 cầm số tiền trên về đưa cho vợ là chị Lê Thị Hằng s tiền 500.000 đồng nhưng chị H1 không cầm nên toàn bộ số tiền có được V1 đã sử dụng hết vào việc tiêu sài cá nhân. Sau đó. anh H2 đã bán lại chiếc điện thoại trên cho anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1977, trú tại thôn L, xã T, thị xã D với giá 1.000.000 đồng. Cháu Q1 cùng gia đình đã trình báo sự việc trên đến Cơ quan Công an.

Vật chứng, tài liệu bị thu giữ, tạm giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ màu xanh, có số IMEI1: 860750042512672, số IMEI2: 860750042512664, đeo ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen, bên trong không lắp SIM; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision BKS: 36L1-287.36; 01 đôi dép bằng cao su, màu hồng, có kích thước mỗi chiếc là (27,5x10)cm; 01 chiếc quần dài màu xám; 01 mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có gắn hai cục vải màu đen; 01 chiếc áo khoác nam màu xanh xám, bên trong cổ áo có chữ “LIVE WIRE”; số tiền 600.000 đồng do chị Lê Thị H1 tự nguyên giao nộp; 02 đĩa CD chứa hình ảnh nội dung vụ án.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐ ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã D, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ màu xanh, đeo ốp lưng bằng nhựa trong suốt đã qua sử dụng trị giá 710.000 đồng.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại Realme C3 là tài sản hợp pháp của cháu Nguyễn Phạm Bảo Q1 và xe mô tô BKS: 36L1 - 287.36 mang tên đăng ký của chị Lê Thị H1 - SN 2003 ở thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, chiếc xe này là tài sản riêng của chị H1, chị H1 mua xe và đăng ký xe trước khi đăng ký kết hôn với bị cáo V1, chị H1 không biết bị cáo V1 dùng xe của mình để đi Cướp giật tài sản, tiến hành tra cứu chiếc xe trên không là vật chứng trong vụ án nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe mô tô BKS: 36L1 - 287.36 cho chị Lê Thị H1 và trả chiếc điện thoại Realme C3 cho cháu Q1.

Về trách nhiệm dân sự: Cháu Q1 đã nhận lại điện thoại Realme C3 và không có đề nghị, yêu cầu gì. Bị can V1 và gia đình đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn K1.

Cáo trạng số 109/CT – VKS – DT ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trịnh Đình Thế V mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Trịnh Đình Thế V chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến tranh luận gì; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 24/3/2024, tại khu vực Nhà văn hóa thôn T, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, lợi dụng sự mất tập trung của cháu Nguyễn Phạm Bảo Q1, sinh ngày 21/11/2010 đang cầm 01 chiếc điện thoại di động Realme C3 trị giá 710.000 đồng để chơi điện tử thì Trịnh Đình Thế V đến gần cháu Quốc v hỏi đường cháu Q1 rồi giật chiếc điện thoại trên tay cháu Q1 rồi bỏ chạy thoát. Tại thời điểm V thực hiện hành vi phạm tội thì cháu Q1 mới 13 tuổi 05 tháng 03 ngày.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là cháu Q1 là người dưới 16 tuổi mà bị cáo Trịnh Đình Thế V thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo là có căn cứ pháp lý.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Về nhân thân: Bị cáo là người đã từng bị kết án và đã được xóa án tích nên là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Tại hai lần bị cáo bị đưa ra xét xử trước đây, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 11 tháng 06 ngày và 16 tuổi 10 tháng 27 ngày, loại tội bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, bản thân bị cáo V đã chấp hành xong hình phạt chính và án phí hình sự sơ thẩm của các bản án trên, do đó căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự thì coi là không có án tích nên trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Từ những nhận định trên, HĐXX nhận thấy bị cáo là người có nhân thân xấu; hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây tâm lý bất bình trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo mức án nghiêm khắc và bị cáo cách ly khỏi xã hội mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập và có con nhỏ nên HĐXX miễn hình áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế và khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã thu giữ được tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 01 chiếc điện thoại di động Realme C3 và trả lại cho bị hại là cháu Nguyễn Phạm Bảo Q1. Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K1 xác nhận đã nhận số tiền 1.000.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường. Nay không ai có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3, vỏ màu xanh, có số IMEI1: 860750042512672, số IMEI2: 860750042512664, đeo ốp lưng bằng nhựa trong suốt có viền màu đen, bên trong không lắp SIM và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision BKS: 36L1-287.36 đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Đối với 01 đôi dép bằng cao su, màu hồng, có kích thước mỗi chiếc là (27,5x10)cm, 01 chiếc quần dài màu xám, 01 mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có gắn hai cục vải màu đen, 01 chiếc áo khoác nam màu xanh xám, bên trong cổ áo có chữ “LIVE WIRE”. Quá trình đấu tranh xác định đây là đồ dụng của bị cáo hiện không còn giá trị sử dụng; tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu lấy lại những tài sản trên nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy

Đối với số tiền 600.000 đồng mà chị Lê Thị H1 (vợ bị cáo) tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, chị H1 đã nộp số tiền 1.000.000 đồng trả lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K1. Nay chị H1 có nguyện vọng xin lại số tiền này. HĐXX xác định đây là số tiền hợp pháp của chị H1 nên cần trả lại cho chị H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 02 đĩa CD chứa nội dung hình ảnh vụ án tiếp tục lưu theo hồ sơ để phục vụ việc xét xử ở các cấp tiếp theo.

[7] Về các tình tiết khác:

Đối với anh Lê Phúc H2: Anh H2 đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3 do Trịnh Đình Thế V cướp giật mà có với giá 600.000 đồng, sau đó anh H2 bán lại chiếc điện thoại này cho anh Nguyễn Văn K1 với giá 1.000.000 đồng, anh H2 không hứa hẹn trước và không biết chiếc điện thoại này do V phạm tội mà có. Vì vậy hành vi của anh H2 không có dấu hiệu của tội phạm nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không xem xét xử lý đối với anh H2 là phù hợp với quy định pháp luật.

[8] Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Từ nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đình Thế V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đình Thế V 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 đôi dép bằng cao su, màu hồng, 01 chiếc quần dài màu xám, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 chiếc áo khoác nam màu xanh xám.
  • - Trả lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Lê Thị Hằng s tiền 600.000 đồng.
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 02 đĩa DVD chứa nội dung hình ảnh vụ án.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 23/8/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Trịnh Đình Thế V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mạnh Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỊNH ĐÌNH THẾ V PHẠM TỘI "CƯỚP GIẬT TÀI SẢN"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger