Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 115/2024/HSST

Ngày: 12-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lý Văn Lấy
  • Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1/ Ông Nguyễn Bá Ky – Trưởng Phòng dân tộc huyện Tuy Phong
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Bích Lam – Cán bộ hưu trí
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
  • - Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Bình D, Giới tính: N, Sinh năm: 1995

Nơi sinh: tỉnh Quảng Trị; Nơi thường trú và chổ ở: thôn D, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do

Cha: Trần Thanh G (sinh năm 1972), mẹ: Lê Thị N1 (sinh năm 1978) hiện trú tại thôn D, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; A, chị, em ruột: Có 02 người. Lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2017; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1999 hiện trú tại xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; Con: chưa có

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam kể từ ngày 11.9.2024 đến ngày 10.11.2024 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T; Có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1967; Địa chỉ: thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Dương Quốc H1, sinh năm 1986; Địa chỉ: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17.9.2022 sau khi nhậu xong Nguyễn Văn D1, sinh năm 1994 trú tại thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận điều khiển xe mô tô của mình

nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 86B1-436.24 chở Trần Bình D, sinh năm 1995 trú tại thôn D, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị về nhà nghỉ ngơi. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Trần Bình D nhìn thấy Nguyễn Văn D1 nằm ngủ trên võng trước hiên nhà nên Trần Bình D nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Trần Bình D đi đến nơi Nguyễn Văn D1 đang nằm ngủ lấy chiếc ví mở ra lấy 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn D1 rồi lấy chìa khóa xe mô tô trong túi quần của Nguyễn Văn D1. Trần Bình D đi đến sân nhà dắt xe mô tô biển số 86B1-436.24 ra khỏi nhà nổ máy điều khiển xe mô tô đến quán C ở thị trấn L, huyện T uống cà phê. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày Trần Bình D điều khiển xe mô tô biển số 86B1-436.24 đến cơ sở cầm đồ A Đây tại khu phố A, trấn L, huyện T nói dối là xe mô tô của Trần Bình D mới mua chưa sang tên đổi chủ do cần tiền nên cần thế chấp. Nguyễn Thị Thanh T (người quản lý cơ sở cầm đồ) không biết xe mô tô do Trần Bình D trộm cắp mà có nên đồng ý cầm cố xe mô tô và giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn D1 rồi đưa cho Trần Bình D số tiền 7.000.000 đồng. Có được tiền Trần Bình D thuê xe taxi chở vào thành phố P, tỉnh Bình Thuận rồi sau đó bỏ trốn. Sau khi ngủ dậy Nguyễn Văn D1 phát hiện xe mô tô có đặc điểm nêu trên bị mất và không thấy Trần Bình D ở nhà. Đến sáng ngày 18.9.2022 Nguyễn Văn D1 phát hiện xe mô tô đang cầm cố tại tiệm C1 thuộc khu phố A, thị trấn L, huyện T nên làm đơn trình báo cho Công an. (bút lục số 41,50,51,57-66)

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐG ngày 28.9.2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T, kết luận:

01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển số 86B1-436.24 trị giá: 45.500.000 đồng/chiếc x 70% = 31.850.000 đồng

Tổng giá trị tài sản định giá: 31.850.000đ (ba mươi mốt triệu, tám trăm năm mươi ngàn đồng)

Quá trình điều tra, Trần Bình D đã bỏ trốn không biết rõ bị cáo đang ở đâu Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T ban hành Quyết định truy nã số 03 ngày 17.3.2023, đến ngày 09.9.2024 bị cáo D đã đến Công an xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị đầu thú.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 119/CT-VKSTP-HS, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Bình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trần Bình D mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 11/9/2024)

Về tang vật chứng và phần bồi thường dân sự: Sau khi định giá Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trao trả lại cho Nguyễn Văn D1 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen biển số 86B1-436.24, Nguyễn Văn D1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Trần Bình D hoàn trả 7.000.000 đồng do cầm cố nhầm tài sản, hiện nay gia đình của Trần Bình D đã hoàn trả đầy đủ tiền cho T, T không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa và đồng ý quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 119/CT-VKSTP-HS, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và người làm chứng cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra vào khoảng 18 giờ ngày 17.9.2022 tại thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận do Trần Bình D đã lén lút, bí mật lấy trộm 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen biển số 86B1-436.24 trị giá 31.850.000 đồng của Nguyễn Văn D1 đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cho cá nhân thì bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo D1 đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì vậy, Cáo trạng số số 119/CT-VKSTP-HS, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Trần Bình D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, đã gây nghi kỵ không tốt trong nội bộ quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nên phải cần xử lý bị cáo nghiêm minh. Vì vậy, cần phải cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường khắc phục hậu quả, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, sau khi bỏ trốn đã đến Công an đầu thú, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với từng bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên ghi nhận để xem xét.

[6]. Về tang vật chứng và phần bồi thường dân sự: Sau khi định giá Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trao trả lại cho Nguyễn Văn D1 01 chiếc xe mô tô 02 bánh hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen biển số 86B1-436.24, Nguyễn Văn D1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu bị cáo Trần Bình D hoàn trả 7.000.000 đồng do cầm cố nhầm tài sản, hiện nay gia đình của bị cáo đã hoàn trả đầy đủ tiền cho T, T không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Bình D phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Bị cáo Trần Bình D 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 11/9/2024).

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Bình D phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết công khai bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an huyện Tuy Phong;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HSST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 09 tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger