|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HS-ST
Ngày 30 tháng 10 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng; ông Nguyễn Thanh Trang;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Thoại Khương, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Anh T, sinh ngày 15/7/1982, tại: C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ C, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1948 (đã chết) và bà Lý Thị Tuyết L, sinh năm 1949 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024, đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C cho đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
Người làm chứng: Trần Quốc H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 12/6/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, có đối tượng hoạt động tội phạm ma túy tại nhà trọ “Viên Tín” thuộc tổ A, khóm V, phường N, do Trần Quốc H làm chủ. Sau khi tiếp nhận thông tin, Đội cảnh sát tội phạm về ma túy-Công an thành phố C cùng Công an phường N tiến hành kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra phòng số 34 có Trần Anh T và Nguyễn Thanh T2 đang trong phòng trọ, lực lượng phát hiện tại vị trí T và T2 ngồi có nhiều dụng cụ ma túy. T và T2 khai đang sử dụng ma túy, nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang;
Qua trình điều tra xác định: Từ khoảng thời gian cuối tháng 12 năm 2023, Trần Anh T thuê phòng trọ số 34 nhà trọ “Viên Tín” để sống một mình. Khoảng tháng 4 năm 2024, T quen biết với Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1987, cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. T2 thường xuyên đến phòng trọ chơi và dọn phòng cho T. Khoảng 17 giờ ngày 11/6/2024, T2 đến phòng trọ, giúp T don dẹp. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T thuê người đàn ông (không rõ lai lịch, chạy môtô chở khách), chở T đến khu vực ấp V, xã V, thành phố C gặp Lê Văn T3, sinh năm 1991, cư trú ấp V, xã V mua 01 túi ma túy đá, giá 1.000.000đồng, xong toàn cất giấu ma túy vào người đem về nhà trọ, sau đó T lấy một ít ma túy ra để vào dụng cụ của T chuẩn bị trước và rủ T2 sử dụng chung, T2 đồng ý và cùng T sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 12/6/2024, T2 đến nhà T chơi, T tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với T2 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang;
Vật chứng thu giữ: 01 (một) bình thủy tinh, có nắp đập màu đen, trên nắp có 02 lỗ nhỏ: 01 lỗ gắn ống thủy tinh, 01 lỗ gắn ông hút nhựa màu hồng, bẻ cong nối với đoạn ông hút nhựa màu xanh sọc trắng (tình trạng đã qua sử dụng);
Kết luận giám định số 815/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh A ghi nhận: Mẫu nước tiểu của Trần Anh T và Nguyễn Thanh T2 gửi giám định tìm thấy thành phần Methamphetamine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam Trần Anh T để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số: 100/CT-VKSCĐ-HS ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Anh T thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng đã truy tố;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thanh T2 trình bày: Quen biết bị cáo Trần Anh T ở ngoài đã lâu, thường xuyên đến phòng trọ số 34 của T chơi, dọn dẹp phòng dùm T và được T cho sử dụng ma túy như cáo trạng đã nêu;
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; vật chứng thu giữ; kết luận giám định, có đủ căn cứ để xác định: Trần Anh T có hành vi nhiều lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Cáo trạng số 100/CT-VKSCĐ-HS ngày 11/10/2024 của VKSND thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Trần Anh T theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:
- - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 2 Điều 255 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Anh T từ 07 (bảy) năm đến 8 (tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 8 năm 2024;
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định nên đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình thủy tinh, có nắp đập màu đen, trên nắp có 02 lỗ nhỏ: 01 lỗ gắn ống thủy tinh, 01 lỗ gắn ông hút nhựa màu hồng, bẻ cong nối với đoạn ông hút nhựa màu xanh sọc trắng do không còn giá trị sử dụng.
Đối với Trần Thanh T4: Đã sử dụng ma túy, nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, nên công an giao địa phương quản lý là phù hợp quy định pháp luật;
Đối với Lê Văn T3, người mà bị cáo T khai đã mua ma túy để sử dụng, hiện không có địa phương, công an tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau;
Bị cáo thống nhất với các ý kiến trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, để sớm quay về hòa nhập xã hội, chăm lo gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích và động cơ thực hiện hành vi phạm tội cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 11/6/2024, T4 đến phòng trọ, giúp T dọn dẹp. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T thuê người đàn ông (không rõ lai lịch, chạy môtô chở khách), chở T đến khu vực ấp V, xã V, thành phố C gặp Lê Văn T3, sinh năm 1991, cư trú ấp V, xã V mua 01 túi ma túy đá, giá 1.000.000đồng, xong toàn cất giấu ma túy vào người đem về nhà, sau đó T lấy một ít ma túy ra để vào dụng cụ của T chuẩn bị trước và rủ T4 sử dụng chung, T4 đồng ý và cùng T sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 12/6/2024, T4 đến nhà T chơi, bị cáo T tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với cùng với T4 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang;
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 7 (bảy) năm đến 15 (mười lăm năm) tù.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống tinh thần của con người, gây nguy hiểm đến trật tự xã hội, trực tiếp gây nên hiểm họa HIV và là mầm móng, nguyên nhân kéo theo những loại tội phạm khác nên Nhà nước ta độc quyền quản lý; nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép dưới mọi hình thức. Bị cáo Trần Anh T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo nhận thức được sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội; góp phần ngăn ngừa tội phạm, ổn định trật tự xã hội, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, tự khai nhận những lần tổ chức sử dụng ma túy trước đó. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hiện tại trên địa bàn thành phố C các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, gia đình đơn chiếc, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra truy tố đã thu giữ của bị cáo 01 (một) bình thủy tinh, có nắp đậy màu đen, trên nắp có 02 lỗ nhỏ: 01 lỗ gắn ống thủy tinh, 01 lỗ gắn ông hút nhựa màu hồng, bẻ cong nối với đoạn ông hút nhựa màu xanh sọc trắng (tình trạng đã qua sử dụng). Nhận thấy, không còn giá trị sử dụng, xét thấy tịch thu tiêu hủy;
[7] Về trách nhiệm của những người liên quan:
- - Đối với Trần Thanh T4 đã có hành vi sử dụng ma túy cùng với bị cáo T, nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra giao địa phương quản lý là phù hợp quy định pháp luật;
- - Đối với việc bị cáo Trần Anh T khai đã mua ma túy của Lê Văn T3, sinh năm 1991, cư trú ấp V, xã V mua 01 túi ma túy đá, giá 1.000.000đồng; theo biên bản xác minh ngày 09/9/2024: Lê Văn T3 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên, nhưng thường xuyên vắng nhà, nên chưa lấy được lời khai. Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra về ma túy tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý;
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy";
Xử phạt: Trần Anh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 09 tháng 8 năm 2024 (ngày chín, tháng tám, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình thủy tinh, có nắp đập màu đen, trên nắp có 02 lỗ nhỏ: 01 lỗ gắn ống thủy tinh, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu hồng, bẻ cong nối với đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng; tình trạng đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án :
Buộc bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án: Bị cáo; những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo những người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đức |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
