|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 24 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Thực
- Ông Trần Đăng Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2004; tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1977 và bà Vũ Thị O, sinh năm 1975; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con. Nhân thân: Tại bản án số 50/2021/HSST, ngày 28-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền án: Tại bản án số 112/2023/HS-ST ngày 27-10-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29-02-2024, chấp hành xong án phí ngày 04-6-2024. Tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17-7-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T - có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Người làm chứng:
- Bà Vũ Thị O, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Chị Đỗ Thị Thùy A, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 00 giờ ngày 15-7-2024, Phạm Văn H, đi bộ một mình từ nhà ở thôn A, xã T sang nhà bạn là anh Nguyễn Văn K ở thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình, mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng 02 giờ cùng ngày, H đến nhà anh K, thấy cổng khóa, H trèo qua tường và rào sắt B40 ở cạnh cổng rồi nhảy vào vườn đi đến phòng khách nhà anh K và đi vào trong buồng nhìn thấy cửa gian thò (phòng ngủ của vợ chồng anh K) khép hờ, H đẩy cửa vào phòng thấy vợ chồng anh K đang ngủ, tại đầu giường có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh blue đang cắm sạc, H dùng hai tay rút điện thoại ra khỏi sạc rồi cầm điện thoại bằng tay phải đi lối cũ ra ngoài đi về nhà. Trên đường về, đến đoạn đường bê tông qua cánh đồng thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện H, Hoàng tháo chiếc ốp và sim điện thoại vứt đi rồi về nhà. Khi về đến nhà khoảng 03 giờ 30 phút thấy mọi người trong nhà đang ngủ, H về phòng riêng mở mật khẩu khóa màn hình điện thoại (do từng mượn điện thoại của anh K sử dụng nên H biết mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại của anh K là “2323”), H đăng xuất tài khoản Icloud trên máy rồi đăng nhập tài khoản mạng xã hội Facebook của H vào ứng dụng Facabook cài sẵn trên điện thoại, nhưng không đăng nhập được do không có mã xác minh (vì H đăng ký tài khoản Facebook bằng số điện thoại của bà O là mẹ H) nên H đi ngủ. Đến khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, khi H ngủ dậy thấy bà O còn ở nhà, H tiếp tục đăng nhập tài khoản Facebook của mình trên chiếc điện thoại trộm cắp được, mã xác minh được gửi về số điện thoại của bà O, H đã hỏi bà O mã xác minh và đăng nhập được tài khoản rồi sử dụng chiếc điện thoại trên trong ngày 15-7-2024. Sáng ngày 15-7-2024 anh K ngủ dậy phát hiện điện thoại bị mất nên đã trình báo Công an xã Đ, huyện H. Đến tối cùng ngày, Công an xã Đ, huyện H triệu tập H đến trụ sở làm việc, tại đây H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc điện thoại và giao nộp chiếc điện thoại trên để phục vụ điều tra.
Bản cáo trạng số 125/CT-KSHH, ngày 11-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Phạm Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn H như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 17-7-2024; về trách nhiệm bồi thường: Không xem xét giải quyết. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Bị hại và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Phạm Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo và lời khai của người bị hại anh Nguyễn Văn K; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 15-7-2024 của Công an xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Công an huyện H lập ngày 15-7-2024; Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 17-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H; Lời khai của người làm chứng chị Đỗ Thị Thùy A và bà Vũ Thị O cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 15-7-2024, bị cáo Phạm Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh blue, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0988.569.xxx, bên ngoài được bọc bằng ốp nhựa màu xanh của anh Nguyễn Văn K tại nhà ở của anh K ở thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình, tổng giá trị tài sản là 15.100.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định như sau:
Điều 173: Tội trộm cắp tài sản
- Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- .....;
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo Phạm Văn H thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an khu vực xảy ra tội phạm.
- Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Tại bản án số 112/2023/HS-ST ngày 27-10-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29-02-2024, chấp hành xong án phí ngày 04-6-2024 đến ngày 15-7-2024, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi trộm cắp lần này được tính là tái phạm. Vì vậy bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
- Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường: Trong quá trình điều tra, bị cáo H giao nộp lại tài sản trộm cắp, bị hại anh K đã nhận lại chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh blue, anh K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà và người bào chữa cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17-7-2024.
- Về trách nhiệm bồi thường: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn H.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn K vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Bích Thủy |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản
