Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 11 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Minh Dũng.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 652/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. NGUYỄN MINH C; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1997; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: không; H và tên cha: Võ Văn T (không rõ lai lịch); Họ và tên mẹ: Nguyễn Lệ L, sinh năm 1970 (sống); Em ruột: có 01 người; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 27/3/2015 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 23/4/2015 bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng xử phạt 01 năm 6 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai bản án C phải chấp hành chung là 02 năm 02 tháng; Ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 20/12/2017 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 05 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 30/8/2018 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/9/2023; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/01/2024, đến ngày 06/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N, TP ..

- Bị hại: Bà Huỳnh Phương T1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970. Địa chỉ: A khu vực A, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
  • + Cháu Đỗ Mỹ U, sinh năm 2014 – người đại diện theo pháp luật ông Đỗ Cao T2. Địa chỉ: 1 đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • + Ông Đỗ Hiếu L2, sinh năm 1981. Địa chỉ: A đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • + Công ty T4. Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, Tp T, TP Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/01/2024, Nguyễn Minh C điều khiển xe mô tô Vario biển số 83P1-746.71 chạy trên đường C hướng đường T về hướng cầu Đ, khi đến đoạn trước Bệnh viện Y, phường H thì thấy chị Huỳnh Phương T1 đang điều khiển xe mô tô cùng chiều phía trước, trong túi quần bên phải của chị T1 có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax nhú ra ngoài nên C nảy sinh ý định giật điện thoại của chị T1, rồi C cho xe mô tô áp sát bên phải cùng chiều xe mô tô của chị T1, C dùng tay trái giật lấy điện thoại của chị T1 rồi tăng ga tẩu thoát, chị T1 tri hô cướp rồi đuổi theo đến đầu hẻm A đường C thì C bị té xe rơi điện thoại của chị T1 lại, anh Nguyễn Phạm Quốc A bán trái cây tại đó thấy và nhặt điện thoại trên, C tiếp tục chạy xe vào trong hẻm A thì va chạm với cháu Đỗ Mỹ U, (sinh năm 2014) chạy xe đạp điện, xe mô tô của C tiếp tục va chạm với xe mô tô biển số 71C1-290.77 do anh Đỗ Hiếu L2 điều khiển xe chở vợ con anh L2 di chuyển hướng ngược lại đang rẽ trái qua đường làm anh L2 bị trày xướt nhẹ, xe mô tô của anh L2 bị bể hư hỏng nhẹ, lúc này chị T1 đến, cùng người dân bắt giữ C bàn giao Công an phường H lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Minh C về hành vi Cướp giật tài sản.

Bản Kết luận định giá tài sản số: 571/KL-HĐĐG ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận N kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và 01 ốp lưng điện thoại có tổng giá trị 11.030.000 đồng (bút lục 21, 22).

Trước Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh C thừa nhận hành vi điều khiển xe mô tô giật điện thoại di động của chị Huỳnh Phương T1 phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được, mục đích chiếm đoạt tài sản là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Nguyễn Minh C thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo đã nhờ người thân bồi thường theo yêu cầu của chị T1, được chị T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C. Tình tiết tăng nặng: không.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng;

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N ra Quyết định xử lý vật chứng số 1425 ngày 28/5/2024 trả lại điện thoại di động Iphone 11 Promax, 256 GB, màu xanh rêu kèm ốp lưng điện thoại cho chị Huỳnh Phương T1 nhận lại xong (bút lục 25);
  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 65KA- 034.77, số loại Vario 125, số khung MH1JMC115PK194857; số máy: JMC1E1194871 là tài sản của bị cáo Nguyễn Minh C đứng tên làm chủ sở hữu, bị cáo C có ký hợp đồng tín dụng với Công ty T4 vay bằng hình thức trả góp với số tiền 22.669.000 đồng và thời hạn vay là 15 tháng, Home C1 giữ giấy đăng ký xe mô tô biển số 65KA - 034.77 của C, đến nay C đã thanh toán cho H1 Credit được 01 tháng với số tiền là 1.906.000 đồng, khoản vay còn lại đã quá hạn. Home Credit đã bàn giao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65KA - 034.77 cho Cơ quan điều tra xử lý, đối với khoản nợ quá hạn trên, Home C1 không yêu cầu giải quyết chung trong vụ án; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi A1 kiểu máy 220733SG, Imei: 861524064080317 màu đen (đã qua sử dụng) là của bị cáo C;
  • - Biển số xe 83P1-746.71 được biết tên chủ xe Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1977, ĐKTT: 434 L, khóm D, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, vào năm 2015 anh T3 mua xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream II, màu nâu, số máy: C100ME5008324, số khung: C100M5008324, anh T3 sử dụng xe đến khoảng năm 2017 thì bán lại cho người khác không rõ địa chỉ;
  • - 01 (một) đĩa DVD lưu trữ đoạn video ghi hình Nguyễn Minh C điều khiển xe mô tô giật điện thoại di động của chị Huỳnh Phương T1. Cơ quan điều tra đưa vào lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị L1 (mẹ của bị cáo C) bồi thường số tiền 1.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích, sửa xe cho chị Huỳnh Phương T1, chị T1 không có yêu cầu gì thêm; đối với cháu Đỗ Mỹ U, anh Đỗ Hiếu L2 bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu bị cáo C bồi thường, sửa chữa phương tiện.

Cáo trạng số 134/CT-VKSNK ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo: Nguyễn Minh C về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo Nguyễn Minh C theo tội danh và điều khoản như nội dung Cáo trạng đã công bố và phân tích các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hai.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội: “Cướp giật tài sản”. Về hình phạt: áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171 BLHS năm 2015; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo C từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và 01 ốp lưng điện thoại cho bị hại T1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã nhờ mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L1 bồi thường số tiền 1.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích, sửa xe cho chị Huỳnh Phương T1, chị T1 không có yêu cầu gì thêm; đối với cháu Đỗ Mỹ U, anh Đỗ Hiếu L2 bị thương tích nhẹ nên không yêu cầu bị can C bồi thường, sửa chữa phương tiện nên đề nghị không đặt ra xem xét.

Về tang vật:

  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 65KA- 034.77, số loại Vario 125, số khung MH1JMC115PK194857; số máy: JMC1E1194871 là tài sản của bị can Nguyễn Minh C đứng tên làm chủ sở hữu có liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công.
  • - Biển số xe 83P1-746.71 đề nghị tịch thu tiêu hủy
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi A1 kiểu máy 220733SG, Imei: 861524064080317 màu đen (đã qua sử dụng) là của bị cáo C đề nghị trả lại cho bị cáo.

Bị cáo C không có tranh luận, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo có thời gian cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có điều kiện sớm về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, cũng như ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của của Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Về những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

[1] Về tội danh dành cho bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo, của bị hại có trong hồ sơ vụ án và qua phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rõ hành vi của bị cáo như sau: Ngày 31/01/2024 bị cáo C đã thực hiện hành vi sử dụng xe mô tô bất ngờ áp sát xe mô tô của chị Huỳnh Phương T1 để giật lấy 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax và 01 ốp lưng điện thoại có tổng giá trị 11.030.000 đồng, sau đó nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Bản thân bị cáo C có 05 tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục sử dụng xe mô tô là phương tiện nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này bị cáo đã bị áp dụng 01 tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm”. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thấy rằng tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo C đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích đã gây ra cho bị hại, khi lượng hình sẽ xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo C tại điểm b, s khoản Điều 51. Bị cáo C có 05 tiền án nên xét thấy bị cáo có nhân thân xấu;

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Động cơ phạm tội của các bị cáo là xem thường pháp luật, bản thân bị cáo C đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực pháp luật thay vì phải biết sống đặt mình vào khuôn khổ của pháp luật nhưng bị cáo lười lao động, lại cố ý vi phạm nên xác định đây là lỗi cố ý trong ý thức phạm tội của bị cáo. Thiết nghĩ cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo trên cơ sở xem xét các căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo là hoàn toàn phù hợp, đúng người đúng tội, thỏa đáng với toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Về vật chứng:

  • - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và 01 ốp lưng điện thoại cho bị hại T1.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125 màu đỏ đen, biển số 65KA-034.77, số máy: JMC1E1194871, số khung MH1JMC115PK194857 xe đã qua sử dụng, phần dàn mũ và đèn phía trước xe bị bể là tài sản của bị cáo Nguyễn Minh C đứng tên làm chủ sở hữu và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65KA-034.77 mang tên Nguyễn Minh C có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công.
  • - Biển số xe 83P1-746.71 được biết tên chủ xe Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1977, ĐKTT: 434 L, khóm D, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, vào năm 2015 anh T3 mua xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream II, màu nâu, số máy: C100ME5008324, số khung: C100M5008324, anh T3 sử dụng xe đến khoảng năm 2017 thì bán lại cho người khác không rõ địa chỉ nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi A1 kiểu máy 220733SG, Imei: 861524064080317 màu đen (đã qua sử dụng) là của bị cáo C không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo Thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C mức án 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 31 tháng 01 năm 2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Ghi nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và 01 ốp lưng điện thoại cho bị hại Huỳnh Phương T1.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125 màu đỏ đen, biển số 65KA- 034.77, số máy: JMC1E1194871, số khung MH1JMC115PK194857 xe đã qua sử dụng, phần dàn mũ và đèn phía trước xe bị bể và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65KA-034.77 mang tên Nguyễn Minh C.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 Biển số xe 83P1-746.71.
  • - Trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động Redmi A1 kiểu máy 220733SG, imei: 861524064080317 màu đen, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo Thi hành án.

(Tang vật do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều quản lý – bút lục 166)

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - BH;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - VKSNDQNK;
  • - VKSNDTPCT;
  • - Công an QNK;
  • - Chi cục THADSQNK.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐỖ THỊ DIỄM TRANG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Chiến phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger