|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HC-ST Ngày: 04-07-2024 “V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lương Minh Trí |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Lê Phan Ngọc Rỹ |
| Bà Phạm Thị Lập |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 22/2022/TLST-HC ngày 31 tháng 01 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HC ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp H, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1973; Địa chỉ: F, QL E khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người bị kiện:
-
Sở T4, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Anh T2, Phó trưởng phòng Hành chính tổng hợp Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T4.
-
Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh V - Phó Chủ tịch.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn Ý, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Long An.
(Ông T, bà T2 có mặt; ông T1, ông V có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Ý vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa của người khởi kiện có nội dung như sau:
Bà Nguyễn Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu hủy chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 do Sở T4 cấp cho bà Võ Thị H ngày 28/6/2018 sang tên bà Nguyễn Thị Ngọc M ngày 08/11/2021 đối với thửa đất 520, tờ bản đồ số 6, diện tích 3.591m²; loại đất lúa, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/09/2012 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn Ý đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Lý do: Tháng 12/2021, bà M kiểm tra thì phát hiện bà đang quản lý và sử dụng toàn bộ thửa 520 và một phần thửa 702, cùng tờ bản đồ số 6 với diện tích là 4.452m², các bên có ranh giới rõ ràng, sử dụng ổn định, không ai tranh chấp nhưng thực tế bà M chỉ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 520, tờ bản đồ số 6, diện tích 3.591m²; phần diện tích còn lại nằm ở thửa 702, tờ bản đồ số 6 do ông Trần Văn Ý đứng tên quyền sử dụng đất. Do đó, ngày 28/6/2022 bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh hủy chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 ngày 22/6/2018 sang tên bà M ngày 08/11/2021 đối với thửa đất số 520 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/9/2012 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn Ý thửa đất số 702, cùng tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An để bà được đăng ký cấp lại cho đúng diện tích thực tế sử dụng.
Tại Văn bản số 22896/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 18/10/2022 của người bị kiện Sở T4 có nội dung:
Ngày 29/6/2018, Sở T4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 cho bà Võ Thị H đối với thửa đất 520, tờ bản đồ số 06, diện tích 3.591m², đất chuyên trồng lúa nước tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Ngày 22/10/2021 bà Võ Thị H cùng chồng là ông Đỗ Văn H1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc M theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C công chứng số 2792, quyển số 03/2021TP/CC-SCC/HĐGD.
Hồ sơ do chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C thụ lý, xét thấy hồ sơ đầy đủ, hợp lệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ký chỉnh lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/11/2021 cho bà Nguyễn Thị Ngọc M là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định. Việc người khởi kiện yêu cầu hủy chỉnh lý biến động sang tên bà M ngày 08/11/2021 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 của Sở T4 cấp cho bà Võ Thị H ngày 29/8/2018 đối với thửa đất 520, tờ bản đồ số 6, diện tích 3.591m²; loại đất lúa, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Văn bản số 2930/UBND-TD ngày 11/5/2023 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C có nội dung:
Ngày 27/09/2012, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 cho ông Trần Văn Ý, đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T3 với ông Trần Văn Ý, được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 22/8/2012, số chứng thực 68/2012, quyển số: 01/2012 TP/CC-SCT/HĐGD.
Việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 27/09/2012 cho ông Trần Văn Ý, đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử theo quy định.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C không có trình bày trong quá trình tham gia tố tụng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Ý trình bày: Ông được mẹ ruột là bà Trầm t cho quyền sử dụng thửa đất 702 và ông được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/9/2012, có ranh giới rõ ràng không tranh chấp, không lấn đất của ai, bà M khởi kiện ông không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 04/11/2022 thể hiện bà M quản lý và sử dụng thửa đất số 520, tờ bản đồ số 06 và một phần thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Hiện trạng toàn bộ thửa 520 và một phần thửa 702 do bà M đang nuôi tôm, có bờ ao rõ ràng. Nguồn gốc thửa đất 520 bà M nhận chuyển nhượng từ bà H và ông H1 và được chỉnh lý biến động sang tên bà M ngày 08/11/2021 là đúng trình tự, thủ tục trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà H, ông H1 sang bà M, diện tích trong hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 520 là 3.591m². Như vậy, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H số CO 630548 đối với thửa đất 520, Văn phòng đăng ký đất đai huyện C chỉnh lý biến động sang tên bà M ngày 08/11/2021 đối với thửa đất 520 là đúng quy định của pháp luật, nên bà M yêu cầu hủy chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 sang tên bà M ngày 08/11/2021 là không có căn cứ nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu này.
Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/09/2012 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn Ý đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Thực tế trên thửa đất 702 ông Ý sử dụng một phần, bà M sử dụng một phần có diện tích 1.139,6m², giữa phần đất bà M sử dụng với phần đất ông Ý sử dụng có bờ ranh rõ ràng, không tranh chấp, hai bên đều đào ao nuôi tôm, do đó Ủy ban nhân dân huyện C khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ý
chỉ căn cứ trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không kiểm tra hiện trạng, đo vẽ thực tế nên cấp không đúng vị trí và diện tích thực tế sử dụng. Vì vậy, việc yêu cầu khởi kiện này của bà M là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/09/2012 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn Ý đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06 để hai bên đăng ký cấp lại cho đúng với vị trí, diện tích đất đang sử dụng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Ngọc M yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 do Sở T4 cấp cho bà H ngày 29/6/2018 sang tên bà Nguyễn Thị Ngọc M ngày 08/11/2021 đối với thửa đất 520, tờ bản đồ số 6, diện tích 3591m²; loại đất lúa, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/09/2012 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn Ý đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
- Về thời hiệu khởi kiện: Tháng 12/2021, bà M phát hiện bà đang quản lý và sử dụng toàn bộ thửa 520 và một phần thửa 702, cùng tờ bản đồ số 6 với diện tích là 4.452m², các bên có ranh giới rõ ràng, sử dụng ổn định, không ai tranh chấp nhưng thực tế bà M chỉ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 520, tờ bản đồ số 6, diện tích 3.591m²; phần diện tích còn lại nằm ở thửa 702, tờ bản đồ số 6 do ông Trần Văn Ý đứng tên quyền sử dụng đất. Do đó, ngày 28/6/2022 bà M nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trong thời hiệu, vì vậy Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
- Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn đề nghị không tiến hành đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.
- Người đại diện của người bị kiện ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Minh V, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Ý được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt Căn cứ vào Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt T1, ông V, Văn phòng đăng ký đất đai huyện C và ông Ý là phù hợp.
- Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
- [5.1] Ngày 29/6/2018, Sở T4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 cho bà Võ Thị H đối với thửa đất 520, tờ bản đồ số 06, diện tích 3.591m², đất chuyên trồng lúa nước tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Ngày 22/10/2021, bà Võ Thị H cùng chồng là ông Đỗ Văn H1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc M theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C công chứng số 2792, quyển số 03/2021TP/CC-SCC/HĐGD. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ký chỉnh lý biến động sang tên bà Nguyễn Thị Ngọc M ngày 08/11/2021 đúng diện tích, vị trí thửa đất theo hợp đồng chuyển nhượng nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cập nhật chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 sang tên bà M là hoàn toàn đúng quy định của Luật Đất đai 2013.
- [5.2] Ngày 27/09/2012, Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 cho ông Trần Văn Ý, đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An là trên cơ sở hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T3 với ông Trần Văn Ý, được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực ngày 22/8/2012, số chứng thực 68/2012, quyển số: 01/2012 TP/CC-SCT/HĐGD là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.
-
Về nội dung của quyết định hành chính:
Ngày 08/11/2021, bà Nguyễn Thị Ngọc M được Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giữa bà H, ông H1 với bà M. Hợp đồng chuyển nhượng trên cơ sở tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, diện tích đất chuyển nhượng, vị trí thửa đất đúng theo hợp đồng nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cập nhật chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 sang tên bà M là hoàn toàn đúng quy định của Luật Đất đai 2013. Vì vậy bà M khởi kiện yêu cầu hủy chỉnh lý biến động sang tên bà M ngày 08/11/2021 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 là không có cơ sở chấp nhận, nên bác yêu cầu này là phù hợp.
Đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 6; tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An thực tế do bà M quản lý sử dụng một phần là 1.136,9m², phần còn lại của thửa đất 702 do ông Ý sử dụng, giữa phần đất ông Ý sử dụng và phần đất bà M sử dụng có bờ ranh rõ ràng, không tranh chấp, hai bên đều đào ao nuôi tôm. Như vậy Ủy ban nhân dân huyện C khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ý chỉ căn cứ trên cơ sở hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, không kiểm tra hiện trạng, đo vẽ nên cấp không đúng vị trí và diện tích thực tế sử dụng. Nội dung này được chứng minh qua lời trình bày của ông T (người đại diện theo ủy quyền của bà M), ông Ý và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, mãnh trích đo bản đồ địa chính ngày 09/6/2022. Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/09/2012 cho ông Trần Văn Ý đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An là không đúng vị trí, diện tích thực tế sử dụng, là trái với
quy định tại Điều 10, Điều 105, Điều 49, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Do đó, yêu cầu khởi kiện này của bà M là có căn cứ nên được chấp nhận, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
-
Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Bà M đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.
Về án phí: Bà M phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm do bị bác yêu cầu. Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 193; Điều 116, Điều 157, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358, Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Áp dụng Điều 5, Điều 10, Điều 98, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 10, Điều 105, Điều 49, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc M
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 962365 ngày 27/09/2012 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn Ý đối với thửa đất số 702, tờ bản đồ số 06, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
-
Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc yêu cầu hủy chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 630548 do Sở T4 cấp cho bà Võ Thị H ngày 29/6/2018 sang tên bà Nguyễn Thị Ngọc M ngày 08/11/2021 đối với thửa đất 520, tờ bản đồ số 6, diện tích 3.591m²; loại đất lúa, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Bà M và ông Ý được quyền đăng ký kê khai để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện C phải thực hiện nhiệm vụ công vụ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M và ông Ý theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc M chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, bà M đã nộp xong.
- Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện C phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Ngọc M phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001365 ngày 06/10/2022 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.
Bản án số 115/2024/HC-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 115/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc Mối "Khiếu kiện quyết định hành chính" Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Long An
