|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 115/2021/HS-ST Ngày: 28 - 10 - 2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hợp; Bà Hà Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2021/QĐXXST - HS, ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn T (tên gọi khác: Không). Sinh ngày 04/10/1987. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm T, xã L, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Lương Văn S, sinh năm: 1958 và bà: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1963. Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1986 (đã ly hôn), chưa có con. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Tiền án: Không. Tiền sự: 01. Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0012701/QĐ-XPHC ngày 05/8/2020 của Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt T 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Nhân thân: Tại quyết định số 2813/QĐ-UBND ngày 10/12/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục đối với T trong thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/7/2021 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Chị Trần Thị Minh T, sinh năm 2002 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Xóm , xã P, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Xóm R, xã B, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Người làm chứng:
1. Anh Triệu Văn L, sinh năm 1993 (Có mặt)
2. Chị Lê Thị L, sinh năm 1971 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Xóm , xã T, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/7/2021, Lương Văn T đến khu vực suối K thuộc xóm T, xã L, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên để tắm suối. Khi T đang tắm thì nước suối đục nên Tạo đi dọc theo bờ suối đến đoạn suối gần bãi chè nhà ông Đỗ Xuân Đ, sinh năm: 1955 để tắm. Đến nơi, T nhìn thấy một nhóm thanh niên đang tắm suối nên T tiếp tục đi lên khu vực suối có tảng đá, cách chỗ nhóm thanh niên đang tắm khoảng 07 mét để tắm. Khi đến tảng đá, T nhìn thấy 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone không có người trông coi quản lý (Sau xác định là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS, màu đen của chị Trần Thị Minh T và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 PLUS, màu trắng xám của anh Nguyễn Văn H). Tạo nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại để sử dụng cho bản thân. T dùng tay phải trộm 02 chiếc điện thoại và đem cất giấu vào trong bụi cây gần khu vực bãi chè nhà ông Lương Văn S. Sau đó T nhờ anh Triệu Đình L chở đi lấy điện thoại. T đưa cho L 01 chiếc IPHONE 6 plus để dùng, còn T giữ lại chiếc IPHONE 7 Plus. Sau đó T mang điện thoại đến nhờ L giữ hộ. L mang cất giấu vào gốc cây cổng nhà chị Lê Thị L. Đến 21 giờ cùng ngày, Công an xã L mời T đến làm việc, T đã khai nhận toàn bộ hành vi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Số tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị theo kết luận định giá tài sản là 3.500.000 đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm minh.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố đẻ là thương binh nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Lương Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/7/2021.
- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Vật chứng: Hoàn trả chị Trần Thị Minh T 01 điện thoại IPHONE 7 PLUS; hoàn trả anh Nguyễn Văn H 01 điện thoại IPHONE 6 PLUS và 01 sim điện thoại Viettel.
- Án phí: Buộc bị cáo Lương Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện Đại Từ (3b); - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đại Từ; - Chi cục THADS huyện Đại Từ; - Thi hành án hình sự (02b); - Bị cáo; bị hại; - Thông báo cho UBND cấp xã; - Lưu hồ sơ, VT. |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÀO NGỌC HÀI |
Bản án số 115/2021/HS-ST ngày 28/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 115/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn Tạo
