|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 115/2021/DS-PT Ngày: 09 - 11 - 2021 V/v: Tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính liên quan đến việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Thái Duy Nhiệm; |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Minh Tuấn; Bà Vũ Thị Thu Hà. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Ngọc - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 343/2020/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính liên quan đến việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 16/2020/DS-ST ngày 14 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 8582/2021/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Bùi Văn A, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Thôn Đông (xóm 9 cũ), xã B, huyện B1, tỉnh Hà Nam.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Bùi Văn A: Ông Lê Văn C - Luật sư Văn phòng luật sư C1 thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: C2, thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
* Bị đơn:
- Ông Đinh Văn A1, sinh năm 1972; có mặt.
- Ông Đinh Văn A2, sinh năm 1976 (Đại diện thừa kế của ông Đinh Văn A5); có mặt.
- Ông Đinh Văn A3, sinh năm 1968 (Đại diện thừa kế của bà Lê Thị A6); có mặt.
- Bà Nguyễn Văn A4, sinh năm 1939. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn A7, sinh năm 1976; có mặt.
- Anh Phan Mạnh A8, sinh năm 1983 (Đại diện thừa kế của bà Dương Thị A9, ông Phan Văn A10); có mặt.
- Ông Đinh Văn A11, sinh năm 1965; có mặt.
- Bà Đinh Thị A12, sinh năm 1954; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn A13, sinh năm 1952; có mặt.
- Bà Đinh Thị A14, sinh năm 1931. Người đại diện theo ủy quyền: Chị Đinh Thị A15; có mặt.
- Bà Đinh Thị A16, sinh năm 1964. Người đại diện theo ủy quyền: Chị Đinh Thị A15; có mặt.
- Bà Đinh Thị A17, sinh năm 1956. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phan Văn A18; có mặt.
- Bà Đoàn Thị A19 (Đinh Thị A19), sinh năm 1966. Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Đinh Văn A2; có mặt.
- Ông Đinh Văn A20, sinh năm 1968. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn A21; có mặt.
- Bà Lê Thị A22, sinh năm 1953. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân A23; có mặt.
- Ông Lê Văn A24, sinh năm 1955. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn A25; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn A26, sinh năm 1957; có mặt.
- Ông Đinh Văn A27 (Đinh Xuân A27), sinh năm 1964. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn A28; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện B1, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hùng C8 - Phó chủ tịch UBND huyện B1; vắng mặt.
- UBND xã B, huyện B1, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đình B2 - Chủ tịch UBND xã B; vắng mặt.
- Ông Chu Văn B3, sinh năm 1975; vắng mặt.
- Ông Bùi Văn B4, sinh năm 1973; vắng mặt.
- Bà Đinh Thị B5, sinh năm 1967. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn A1; có mặt.
- Anh Đinh Văn A2, anh Đinh Văn B6, anh Đinh Văn B7, chị Đinh Thị B8. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn A2; có mặt.
- Anh Đinh Văn A3, Ông Đinh Công B12, anh Đinh Văn B13, anh Đinh Văn B16. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn A3; có mặt.
- Anh Lê Văn A7, bà Lê Thị B17, anh Lê Văn B18. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Văn A7; có mặt.
- Anh Phan Mạnh A8, anh Phan Văn B19, chị Phan Thị Hoa B20. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phan Mạnh A8; có mặt.
- Anh Đinh Văn B21, anh Đinh Văn B22. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn A11; có mặt.
- Ông Đinh Trí B23, anh Đinh Trí B24. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị A12; có mặt.
- Bà Phan Thị B25, chị Nguyễn Thị B26, anh Nguyễn Bình B27, chị Nguyễn Thị B28. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn A13; có mặt.
- Chị Đinh Thị A15, anh Đinh Văn B29, chị Đinh Thị B30, chị Phạm Thị B31. Người đại diện theo ủy quyền: Chị Đinh Thị A15; có mặt.
- Anh Phan Văn A18, anh Phan Văn B32, anh Phan Văn B33. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phan Văn A18; có mặt.
- Anh Đinh Tiến B34. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn A2; có mặt.
- Bà Đinh Thị B35, anh Nguyễn Minh B36. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn A21; có mặt.
- Chị Đinh Thị Hải B37, chị Đinh Thị Hải B39, anh Đinh Hải B40. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân A23; có mặt.
- Bà Phạm Thị B41, chị Lê Thị B42, chị Lê Thị B43, anh Lê Văn B45, chị Lê Thị B46. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn A25; có mặt.
- Bà Quách Thị B47, anh Nguyễn Văn B48, anh Nguyễn Văn B49, chị Nguyễn Thị B50. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn A26; có mặt.
- Bà Đinh Thị B51, anh Đinh Trọng B52. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đinh Văn A28; có mặt.
* Người kháng cáo: Ông Bùi Văn A, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Năm 1996, thực hiện chủ trương làm kinh tế trang trại đa canh trên vùng đất trũng thuộc xứ đồng Đống Son, xã B, huyện B1, tỉnh Hà Nam các thôn xóm vận động các hộ dân ký đơn trả ruộng hoặc cho UBND xã, các chủ trang trại mượn để UBND xã B ký Hợp đồng kinh tế thầu khoán với các cá nhân có nhu cầu làm kinh tế trang trại. Năm 1996, UBND xã B ký Hợp đồng kinh tế khoán thầu và giao đất cho hộ bà Dương Thị A9 (đã chết) để làm kinh tế trang trại. Ngày 16/12/1997, bà Dương Thị A9 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn B4 7.488m2 đất. Sau đó, cùng năm ông B4 chuyển nhượng lại cho ông Bùi Văn A 3.744m2 đất. Ngày 15/12/1997, ông A nhận chuyển nhượng 7.488m2 đất từ ông Chu Văn B3. Việc chuyển nhượng đất giữa các bên được lập thành văn bản và được UBND xã B chứng thực.
Như vậy, tổng diện tích ông Bùi Văn A nhận chuyển nhượng để làm kinh tế trang trại là 11.323m2 tại xứ đồng Đống Son, xã B, huyện B1, tỉnh Hà Nam thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 7, bản đồ năm 1990 và ông A sử dụng từ năm 1997. Toàn bộ diện tích đất 11.323 m2 ông A sử dụng làm kinh tế trang trại là đất nông nghiệp, trong đó có 10.152m2 đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn của 17 hộ gia đình bị đơn, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994.
Thực hiện xây dựng khu trung tâm đón tiếp nghỉ dưỡng thuộc dự án Khu du lịch Tam Chúc tại xã B. Ngày 29/8/2017, UBND huyện B1 ban hành các Quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình trên và phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ đất đai. Ông Bùi Văn A cho rằng: Năm 1997, các hộ gia đình có tên trên được giao đất nông nghiệp tại khu vực đồng Đống Son, xã B, huyện B1; nhưng các hộ này đã tự nguyện trả lại đất cho UBND xã B. Toàn bộ diện tích đất của 17 hộ gia đình bị đơn, do ông nhận chuyển nhượng bằng văn bản từ bà A9, ông B4, ông B3 có chứng thực của UBND xã B và gia đình ông đã trực tiếp quản lý, sử dụng liên tục từ đó cho đến khi Nhà nước thu hồi. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền tài sản đối với quyền sử dụng 10.152m2 đất cho ông và hủy các quyết định thu hồi đất liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[4] Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như các đương sự trình bày có căn cứ khẳng định: Các hộ gia đình bị đơn được Nhà nước giao diện tích đất nông nghiệp để sản xuất theo Quyết định 115 và 990 của UBND tỉnh Hà Nam, đến năm 1994 các hộ gia đình trên được cấp GCNQSD đất. Năm 1997 thực hiện chủ trương chuyển dịch vùng đất trũng sang sản xuất VAC; sau khi có sự vận động của chính quyền địa phương, các hộ gia đình đồng ý giao lại đất nông nghiệp thuộc xứ đồng Đống Son cho UBND xã B, để UBND xã giao cho hộ gia đình có khả năng làm trang trại VAC. Năm 1997, UBND xã B ký hợp đồng kinh tế giao khoán thầu 7.488m2 đất nông nghiệp cho hộ bà Dương Thị A9. Sau đó diện tích này được chuyển nhượng qua nhiều người và cuối cùng ông Bùi Văn A nhận chuyển nhượng.
[5] Tuy nhiên, các hộ gia đình có đất nằm trong trang trại của ông A không được dồn đổi năm 2001, nên căn cứ xác định chủ sử dụng đất để bồi thường, hỗ trợ là theo hồ sơ địa chính năm 1991 và GCNQSD đất mà các hộ được cấp năm 1994. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà A9, ông B3, ông B4 với ông A thực chất chỉ là hợp đồng chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng thầu khoán mà những người chuyển nhượng đã ký với UBND xã B, không phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Do đó, không có căn cứ xác định ông A được quyền sử dụng diện tích đất nêu trên và không được quyền hưởng số tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn A; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2020/DS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Án phí: Ông Bùi Văn A phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hà Nam; - Cục THA dân sự tỉnh Hà Nam; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 115/2021/DS-PT ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính liên quan đến việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường
- Số bản án: 115/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính liên quan đến việc thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/11/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Bùi Văn A - BĐ: Đinh Văn A1
