Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 1149/2024/HS-PT

Ngày: 10 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 973/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Nhựt H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Nhựt H sinh năm 1990 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Khóm D, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, nơi tạm trú: Xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Thúy H2; bị cáo có vợ là bà Đoàn Ngọc D và 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 01 tháng 01 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhựt H (gia đình bị cáo mời): Ông Phùng Văn H3, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

(Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo Tòa án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhựt H là em cột chèo với ông Lê Kim Đ, sinh năm 1971, nơi cư trú: khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (vợ ông Đ là bà Đoàn Thị Ngọc M, là chị ruột của vợ H tên Đoàn Ngọc D). H là tài xế và hiểu biết về xe cũng như tìm nguồn hàng để chạy nên ông Đ bàn bạc với H là ông Đ sẽ bỏ tiền ra mua xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc để cho H chạy chở hàng hóa, hàng tháng ông Đ trả tiền lương cho H 10.000.000 (mười triệu) đồng. Do ông Đ ở tỉnh Vĩnh Long nên không tiện đứng tên chủ sở hữu xe mà nhờ bà Đoàn Thanh H4 sinh năm 1981, nơi cư trú: số E, ấp D, phường A, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (là em vợ của ông Đ và là chị vợ của H) đứng tên sở hữu xe vì bà H4 có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh để khi đăng ký biển số xe sẽ thuận lợi cho việc tham gia giao thông và vận chuyển hàng hóa.

Ngày 29 tháng 3 năm 2020, ông Đ đi cùng với H đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T5, địa chỉ: khu phố H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp ông Nguyễn Quốc T – Giám đốc Công ty để mua xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc. Khi xem xe ô tô đầu kéo hiệu International biển số 49C-199.41 và sơ mi rơ mooc biển số 49R-003.96 (xe này do ông T mua lại của ông Nguyễn Minh Tiên S năm 1970, nơi cư trú: số C L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng bằng hình thức ký Hợp đồng ủy quyền toàn quyền ngày 07 tháng 4 năm 2020 tại Văn phòng C, tỉnh Lâm Đồng), ông T hỏi ai là người mua xe thì ông Đ nói H là người mua. Ông T cho biết giá bán xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc là 930.000.000 (chín trăm ba mươi triệu) đồng và các bên thống nhất với giá mua bán trên. Sau đó, ông Đ đưa cho H 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để đặt cọc cho ông T, H xin lại ông T 5.000.000 (năm triệu) đồng để lấy may mắn và ông T đồng ý. Các bên thỏa thuận ông T sẽ làm thủ tục đăng ký xe từ Nguyễn Minh T1 sang Đ đứng tên khi ký chuyển nhượng.

Ngày 07 tháng 4 năm 2020, ông T làm thủ tục giải chấp xe ô tô trên tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T6 – Chi nhánh Đ1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng T7). Ngày 08 tháng 4 năm 2020, ông T ký Hợp đồng mua bán xe với Đoàn Thanh H4 tại Văn phòng C1, địa chỉ: số A Quốc lộ A, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, ông Đ đưa 900.000.000 (chín trăm triệu) đồng cho H trả cho ông T và hoàn tất thủ tục đăng ký biển số mới cho xe đầu kéo là 51D-645.54 và sơ mi rơ mooc là 51R-324.60.

Sau khi mua xe, ông Đ giao xe đầu kéo và sơ mi rơ mooc trên cho H quản lý, tìm nguồn hàng hóa để chở thuê. Đến ngày 29 tháng 6 năm 2020, ông Đ yêu cầu bà H4 ký Hợp đồng ủy quyền toàn quyền đối với xe đầu kéo và sơ mi rơ mooc trên cho ông Đ tại Văn phòng C2, địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, H không biết sự việc này.

Ngày 02 tháng 7 năm 2020, H thuê tài xế tên Văn Đắc N, sinh năm 1974, nơi cư trú: phường L, quận C, thành phố Cần Thơ điều khiển xe đầu kéo 51D-645.54 đi chở hàng hóa, khi đến khu vực huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị Trạm Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi lắp bánh lốp không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và tạm giữ giấy đăng ký xe đầu kéo trên.

Từ khi giao xe đến tháng 7 tháng 2020, H quản lý xe không sinh lời, ngoài việc trừ tiền lương hàng tháng của H theo thỏa thuận, H còn yêu cầu ông Đ trả 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng cho việc thay 12 vỏ xe và 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng tiền đổ 3.000 lít dầu. Nhận thấy việc kinh doanh không sinh lợi nhuận nên ông Đ yêu cầu H đem xe về để ông Đ bán hoặc H đăng bán xe trên mạng xã hội, nếu có người cần mua thì H báo lại cho ông Đ để ông trực tiếp thỏa thuận giá.

Do H đang thiếu nợ nhiều người và thường xuyên bị đòi nợ tại phòng trọ, cùng lúc biết ông Đ có ý định bán xe nên H nảy sinh ý định bán xe đầu kéo của ông Đ để lấy tiền trả nợ. Để thực hiện ý định, H đã sử dụng tài khoản facebook tên “Trai Miền T2” đăng bài bán xe. Sau đó, H đến gặp bà Phan Thị V, sinh năm 1973, nơi cư trú: I, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - chủ Gara Lâm Phi H5 (nơi H đang sửa xe đầu kéo) nói việc H bán xe, bà V yêu cầu đưa giấy đăng ký xe và đến văn phòng công chứng làm thủ tục nhưng do giấy đăng ký xe đang bị Công an giao thông tạm giữ nên bà V không đồng ý mua.

Khoảng 08 giờ ngày 26 tháng 7 năm 2020, ông Nguyễn Quốc T thấy H đăng bán xe nên liên hệ hỏi giá mua lại chiếc xe trên, nghe H nói giá bán xe là 990.000.000 (chín trăm chín mươi triệu) đồng, ông T cho rằng giá cao đề nghị H giảm giá nhưng H không đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông T nhờ ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1987, nơi cư trú: số E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (chuyên môi giới xe ô tô) liên lạc với H hỏi và trả giá để mua xe đầu kéo và sơ mi rơ mooc. H hẹn gặp ông P tại quán cà phê tên PY-KHFE, địa chỉ: số E đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để thỏa thuận giá bán.

Sau khi thỏa thuận, H đồng ý bán xe đầu kéo và sơ mi rơ mooc với giá 930.000.000 (chín trăm ba mươi triệu) đồng và yêu cầu ông P đặt cọc trước 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng. Ông P điện thoại cho ông T yêu cầu ông T chuyển khoản cho H qua số tài khoản 10323237 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) số tiền trên. Sau khi nhận được tiền, H và ông P đến Gara Lâm Phi H5 của bà Phan Thị V để lấy xe đầu kéo biển số 51D-645.54.

Tại đây, khi H và ông P đang xem xe đầu kéo thì ông T đến, lúc này biết ông T là người mua xe, H nói sơ mi rơ mooc đang để xe đầu kéo khác kéo đi chở hàng và giấy tờ xe hiện nay Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T đang tạm giữ nên H sẽ giao xe đầu kéo trước và hẹn ngày 28 tháng 7 năm 2020 ra công chứng sẽ giao đầy đủ sơ mi rơ mooc và giấy tờ xe. Vì vậy, ông T chỉ giao thêm cho H 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng, trong đó, ông T chuyển vào số tài khoản 10323237 – Ngân hàng A của H 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) và chuyển qua tài khoản bà V 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng theo yêu cầu của H để trả nợ tiền sửa xe. Tổng số tiền ông T chuyển khoản đặt cọc cho H là 330.000.000 (ba trăm ba mươi triệu) đồng. Sau khi thỏa thuận xong, ông T cùng ông P điều khiển xe đầu kéo biển số 51D-645.54 về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T5.

Số tiền nhận được từ ông T, H sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân. Khi biết H bán xe của anh rể (ông Đ), ngày 28 tháng 7 năm 2020, bà Đoàn Ngọc D (vợ của H) điện thoại cho ông Đ báo tin H đã bán xe. Đến sáng ngày 29 tháng 7 năm 2020, vợ chồng ông Đ đến nhà trọ gặp H hỏi rõ sự việc, lúc đầu H nói không có bán xe nên ông Đ kêu H giao xe để đem về thì H mới thừa nhận đã bán xe cho ông T, xe đầu kéo đang để tại Công ty của ông T. Đến ngày 30 tháng 7 năm 2020, ông Đ đến Công an phường B, thành phố D tố giác Nguyễn Nhựt H về hành vi chiếm đoạt xe đầu kéo hiệu International biển số 51D-645.54 và sơ mi rơ mooc biển số 51R-324.60.

Bản Kết luận định giá tài sản số 154/KLĐG-HĐĐGTS ngày 17 tháng 9 năm 2020, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận:

  • 01 (một) xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu International, số loại: Prostar, số khung: SNR4EN795268, số máy: 6HM2Y4301729, biển số: 51D-645.54 có giá là 710.000.000 (bảy trăm mười triệu) đồng;
  • 01 (một) sơ mi rơ mooc nhãn hiệu KCT, số loại: 543, màu vàng, tải trọng: 31.700 kg, số khung: F3STA3000300, biển số: 51R-324.60 có giá là 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.

Bản Kết luận giám định số 543/GĐ-PC09 ngày 21 tháng 12 năm 2020, Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

Chữ ký và chữ viết họ tên “Nguyễn Nhựt H” dưới mục “Kí tên”, “Người nhận cọc” trên “Giấy mua bán”, đề ngày 26/7/2020 (ký hiệu A) so với chữ ký và chữ viết họ tên của Nguyễn Nhựt H trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) do cùng một người ký và viết ra.

Chữ viết ở trang 1 (trừ chữ viết họ tên “Thanh Phương” dưới mục “Người cọc”) và chữ viết có nội dung “Tôi lấy cà vẹt vê nộp Đầy Đủ ok” tại dòng 6 trang 2 trên “Giấy mua bán”, đề ngày 26/7/2020 (ký hiệu A) so với chữ viết của Nguyễn Nhựt H trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) do cùng một người viết ra.

3. Chữ viết ở trang 2 (trừ kết luận mục V.2) trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết của Nguyễn Nhựt H trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) không phải do cùng một người viết ra.”

Bản Kết luận giám định số 69/KL-PC09 ngày 11 tháng 02 năm 2022, Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

Chữ ký, chữ viết họ tên “Đoàn Thanh H4” dưới mục “Bên A (ký tên và ghi rõ họ tên) trên 01 (một) “Hợp đồng ủy quyền”, đề ngày 29/6/2020 (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết họ tên của Đoàn Thanh H4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1 và M2) do cùng một người ký và viết ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:

Căn cứ khoản 4 Điều 175; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt H 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/9/2024, bị cáo Nguyễn Nhựt H có đơn kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  1. Phần xét hỏi: Bị cáo Nguyễn Nhựt H giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo bị oan, bị cáo có các bằng chứng và nhân chứng chứng minh được mình vô tội nhưng không được Tòa cấp sơ thẩm xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại trong sạch cho bị cáo.

  2. Phần tranh luận

    1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

      1. Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.

      2. Về nội dung: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Nhựt H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên hình phạt 14 (mười bốn) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhựt H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

    2. Phần đối đáp của Luật sư Phùng Văn H3 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhựt H: Lời khai của ông T khai nhận rằng, ông T chỉ giao dịch với H và biết xe là của H. Trong hồ sơ thể hiện việc chuyển khoản của ông Đ gửi cho vợ của bị cáo có ghi cho em gái mượn tiền. Liên quan đến giấy ủy quyền có dấu hiệu vi phạm pháp luật: Tại thời điểm ký ủy quyền, bị cáo đang giữ bản gốc các giấy tờ xe, nhưng ông Đ và bà H4 lại ký được hợp đồng ủy quyền. Về chứng cứ vật chất, ông Đ không có bất cứ giấy tờ gì thể hiện ông Đ là chủ xe. Do hồ sơ không đầy đủ chứng cứ buộc tội bị cáo, nên đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.

    3. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Trong quá trình điều tra, chính vợ bị cáo có khai nhận ông Đ là chủ sở hữu xe. Việc luật sư cho rằng ông Đ chuyển tiền cho vợ bị cáo để cho vay là không có căn cứ. Ngoài ra, luật sư cho rằng ông Đ không có giấy tờ gì thể hiện mình sở hữu xe, nhưng chính bà H4 là người đứng tên chủ sở hữu thừa nhận bà là người đứng tên thay cho ông Đ. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

    4. Luật sư Phùng Văn H3 đối đáp: Tại thời điểm lấy lời khai, vợ chồng bị cáo đã ly hôn, nên việc khai nhận của vợ bị cáo có hướng bất lợi với bị cáo, không thể chỉ căn cứ vào lời khai của bà D được.

    5. Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa giữ nguyên quan điểm đã trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

  3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo bị oan, xin HĐXX xem xét trả lại trong sạch cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Nhựt H đã thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

  2. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Nhựt H, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đình chỉ giải quyết vụ án:

    1. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H thay đổi lời khai cho rằng: Bị cáo không phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo cho rằng số tiền mua xe là tiền của bị cáo vay của ông Đ, bị cáo không làm thuê cho ông Đ. Việc ông Đ và bà H4 ký hợp đồng ủy quyền là hành vi gian dối, hợp thức hóa giấy tờ. Bị cáo bị bệnh thần kinh đang phải điều trị nên lời khai ban đầu của bị cáo không chính xác.

      Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án, không phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cũng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Bị cáo thay đổi lời khai nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Cụ thể:

      - Về nguồn tiền để mua xe được xác định là của ông Đ, thông qua sao kê chuyển khoản của ông Đ và bị cáo. Bị cáo cũng đã xác nhận số tiền này là của ông Đ. Việc bị cáo cho rằng, số tiền này bị cáo mượn của ông Đ để mua xe được chứng minh qua sao kê chuyển khoản của ông Đ cho vợ bị cáo. Tuy nhiên, tình tiết này không đủ chứng minh ông Đ đã cho bị cáo vay tiền để mua xe mà chỉ chứng minh được nguồn tiền mua xe xuất phát từ tiền của ông Đ. Ngoài ra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Quốc T (là người đã bán và mua lại xe) và chính vợ bị cáo đều xác định ông Đ là chủ xe.

      - Về người đứng tên chủ sở hữu của tài sản là bà Đoàn Thanh H4. Bà H4 khai nhận bà là người đứng tên thay cho ông Đ vì bà có hộ khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh để khi đăng ký biển số xe sẽ thuận lợi cho việc tham gia giao thông và vận chuyển hàng hóa. Sau đó bà và ông Đ ký Hợp đồng ủy quyền toàn quyền đối với xe đầu kéo và sơ mi rơ mooc trên cho ông Đ tại Văn phòng C2, địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo cho rằng việc ông Đ và bà H4 ký hợp đồng ủy quyền là hành vi gian dối, hợp thức hóa giấy tờ nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Hợp đồng ủy quyền giữa bà H4 và ông Đ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực.

      Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.

    2. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo H:

      Xét thấy, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Vào ngày 08 tháng 4 năm 2020, ông Lê Kim Đ giao cho Nguyễn Nhựt H quản lý một xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu International, biển số: 51D-645.54 và một sơ mi rơ mooc nhãn hiệu KCT, biển số 51R-324.60 để H kinh doanh chở hàng hóa. Khoảng tháng 07 năm 2020, H nảy sinh ý định bán xe của ông Đ để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Đến ngày 26 tháng 07 năm 2020, H dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt bằng cách bán xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc nêu trên cho ông Nguyễn Quốc T với giá 930.000.000 (chín trăm ba mươi triệu) đồng, ông T đã chuyển khoản đặt cọc cho H tổng cộng 330.000.000 (ba trăm ba mươi triệu) đồng. Trị giá xe ô tô đầu kéo biển số 51D-645.54 và sơ mi rơ mooc biển số 51R-324.60 là 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng. Như vậy, bị cáo H lợi dụng sự tín nhiệm của ông Lê Kim Đ khi được giao quản lý xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc, đã nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng cách bán xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc để lấy tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ. Bị cáo đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

      Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo H.

    3. Với hành và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Nhựt H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

  3. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân của bị cáo H, xem xét bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhận định vì bị cáo không thành khẩn, cho rằng xe của bị cáo, việc truy tố là không đúng nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; từ đó xử phạt bị cáo H 14 (mười bốn) năm tù là có phần nặng so với hành vi do bị cáo H thực hiện.

    Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Nhựt H không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Tuy nhiên, như nhận định ở trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo H là không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

  4. Trên đây là lập luận của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đối với quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, cũng như lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  6. Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Nhựt H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

    Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhựt H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần hình phạt của bị cáo Nguyễn Nhựt H. Tuyên xử:

    Căn cứ vào khoản 4 Điều 175; Điều 38 của Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2024.

  2. Tiếp tục giam bị cáo Nguyễn Nhựt H 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Nhựt H không phải chịu.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cao Văn T3 – Nguyễn Thị Thanh

Vũ Đức Toàn

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Dương; (2)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Trại tạm giam tỉnh Bình Dương (2)
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1149/2024/HS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 1149/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Nhựt H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần hình phạt của bị cáo Nguyễn Nhựt H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger