Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN B

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1147/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2024

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

2. Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trân - Cán bộ Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiêm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Lan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 0363/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Xuân M, sinh năm 1991 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 1 N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Trần Trung N, sinh năm 1987 (Có mặt)

HKTT: Xã A, huyện H, tỉnh Đ, Thành phố Hồ Chí Minh

Tạm trú: 109/32 N, Phường F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 340/49/13 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các bản trình bày ý kiến và các biên bản hòa giải, làm việc tại Tòa án, nguyên đơn, bà Đoàn Xuân M trình bày: Bà và ông Trần Trung N đã tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân từ năm 2016, có đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 22/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh R cấp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng cùng chung sống ở nhà cha mẹ bà ở địa chỉ 1 N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Quá trình chung sống, hai vợ chồng hạnh phúc không bao lâu thì đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn: Ngay sau khi kết hôn, bà phát hiện ông N có quan hệ với người phụ nữ khác, bà đã im lặng chịu đựng cho đến khi con chung được 2 tuổi, bà tiếp tục phát hiện ông N có người phụ nữ khác, bà đã nói chuyện với ông N, mong muốn ông N thay đổi vì gia đình, vì con nhưng ông N nói bà muốn ly hôn thì ly hôn, vì khi đó bà chưa tự chủ về kinh tế, con còn nhỏ nên bà chưa thể ly hôn. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm gì với ông N, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, khả năng đoàn tụ không có nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Trung N.Về con chung: Bà và ông N có một người con chung tên là: Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016, khi ly hôn bà đồng ý giao con chung tên Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng và bà đồng ý cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, ông Trần Trung N trình bày tại bản tự khai, biên bản hòa giải tại Tòa án: Việc kết hôn, chung sống và con chung như bà M trình bày là đúng. Về mâu thuẫn: Từ khi kết hôn cho đến nay, vợ chồng ông chưa xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng cũng chưa từng lớn tiếng với nhau. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ 1 N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2018 hai vợ chồng chuyển đi ở tại nhiều nơi khác, từ tháng 01/2023 cho đến nay thì đến sống tại địa chỉ: 340/49/13 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có thông báo với công an phường. Ông không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn tình cảm với bà M và không muốn con thiếu hụt tình cảm của ba mẹ. Việc bà M đưa đơn ly hôn là do tác động của gia đình bà M, bà M nghe lời mẹ đã dọn ra ở riêng từ tháng 01/2024 cho đến nay, con chung do ông tự chăm sóc. Ông đã khuyên nhủ bà M về nhà chăm sóc con nhưng bà M không đồng ý. Việc bà M cho rằng ông có quan hệ tình cảm với nhiều phụ nữ khác là không đúng, do tính chất công việc của nhà thầu xây dựng nên thường xuyên vắng nhà, dẫn đến sự hiểu lầm của bà M.

Về con chung: Ông và bà M có một người con chung tên là: Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016, ông đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu Tòa án không ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của bà M.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai bên đoàn tụ nhưng không thành.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Xuân M có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Trần Trung N trình bày: Ông không đồng ý ly hôn. Ông đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016. Về cấp dưỡng: Ông không đồng ý nhận tiền cấp dưỡng theo đề nghị của bà M, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Về thẩm quyền: Theo căn cứ kết quả xác minh nơi cư trú ông Trần Trung N tại Công an phường E, quận B và Công an phường T, Quận A thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân quận B.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà M, bà Đoàn Xuân M được ly hôn ông Trần Trung N.
  • - Về con chung: Giao con chung tên Trần Mai Gia H cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà M về việc cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không có yêu cầu.
  • Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì giữa các bên đã phát sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn khai hiện đang cư trú tại địa chỉ: 340/49/13 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A theo Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 1258/2024/QĐ-CCTLC ngày 03/5/2024 và số 1302/2024/QĐ-CCTLC ngày 06/5/2024 của Tòa án nhân dân quận B cho biết ông N không đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ trên; Kết quả xác minh của Công an E, quận B cho biết ông N hiện đang cư trú tại địa chỉ: 1 N, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017 cho đến nay. Xét việc khởi kiện của bà Đoàn Xuân M phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Xuân M yêu cầu ly hôn ông Trần Trung N.

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 22/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh R thì quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông N là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét lời khai của bà M tại các bản tự khai cũng như tại các buổi hòa giải bà M cho rằng ông N không đồng hành cùng bà trong việc chăm sóc gia đình và con cái, cả quá trình hôn nhân bà phải tự bươn chải, bà cho rằng ông N có quan hệ với người phụ nữ khác nhưng ý kiến này không được ông N công nhận mà chỉ là hiểu làm giữa hai vợ chồng và bà M cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, mâu thuẫn này đã không được cả hai bên cùng nhau giải quyết để hàn gắn tình cảm, làm mâu thuẫn kéo dài dẫn đến việc hiện nay bà xác định bà không còn tình cảm gì với ông N, mâu thuẫn giữa hai bên là hoàn toàn không thể hàn gắn.

Xét lời khai của ông N không đồng ý ly hôn vì cho rằng những mâu thuẫn giữa hai ông bà chỉ là hiểu lầm nhưng ông không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm với bà M và bà M cũng không đồng ý đoàn tụ.

Tòa án đã nhiều lần hòa giải, động viên bà M đoàn tụ với ông N nhưng bà M đều giữ nguyên mong muốn được ly hôn với ông N, đồng thời bà cũng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, cho thấy bà M không còn tình cảm gì với ông N và không mong muốn được đoàn tụ. Từ những nhận định trên cho thấy mâu thuẫn giữa hai bên là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ là không có, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.

[2.2] Về con chung: Bà M và ông N đều xác nhận có 01 người con chung tên Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016.

Xét hai bên thỏa thuận con chung sẽ do ông N trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của nguyên đơn và bị đơn, giao con chung tên Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Bà M tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng nhưng ông N không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con và cũng không đồng ý nhận tiền cấp dưỡng tự nguyện từ bà M. Tuy nhiên, đây là sự tự nguyện của bà M, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình và nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của con chung cho đến khi đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bà M.

[2.3] Về tài sản: Tài sản chung và nợ chung: Bà M và ông N khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Đoàn Xuân M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 51, 56, 58, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Điều 26 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đoàn Xuân M.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Xuân M được ly hôn ông Trần Trung N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 22/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh R cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

1.2 Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn, giao con chung tên Trần Mai Gia H, sinh ngày 17/12/2016 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3 Về cấp dưỡng: Bà Đoàn Xuân M cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thực hiện kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Kể từ ngày người được quyền thi hành án có đơn thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

1.4 Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Đoàn Xuân M chịu, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0018690 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cấn trừ, bà M còn phải nộp thêm 300.000 đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án

4. Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q. B;
  • - THADS Q. B;
  • - UBND xã Đ, huyện M, tỉnh R (GKH số 31
  • ngày 22/4/2016)
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1147/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1147/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình của bà Đoãn Xuân M và ông Trần Trung N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger